CƠN ÁC MỘNG MỸ (9)

Phần 3

Sự phân cực đã gây ra những gì?

No, we can’t

Như chúng ta đã biết, từ những năm 1960, đảng Cộng Hòa và Dân Chủ đã đi theo hai hướng khác nhau do việc phân loại cử tri. Trong những thập niên kế tiếp, các chính trị gia như Newt Gingrich và vụ đề cử Bork vào chức chánh án Tòa Án Tối Cao làm mối quan hệ giữa hai đảng ngày càng tồi tệ. Đồng thời các nhóm lợi ích như NRA, The Moral Majority và những người chống thuế như Grover Norquist đã góp phần vào việc định nghĩa thế nào là người cộng hòa. Trong phương tiện truyền thông bảo thủ, các định nghĩa này được lặp lại và nhấn mạnh. Các phòng echo phát triển mạnh và nhà chính trị học Sean Theriault gọi chúng  là “chiến tranh chính trị của đảng”. Vụ bê bối Lewinski vào cuối những năm 1990 đã cho chúng ta biết qua trận chiến này. Nhưng chính việc Bill Clinton giành thắng lợi trước George W. Bush và giai đoạn sóng gió của ông trong Nhà Trắng cho thấy sự chia rẽ trong nền chính trị Mỹ trầm trọng đến mức độ nào.

Đêm bầu cử vào ngày 07 tháng Mười Một 2000 là vở bi kịch vô tiền khoán hậu. Ngay từ sớm, có vẻ như ứng cử viên Al Gore thuộc đảng Dân Chủ sẽ giành được chiến thắng tại Florida và trở thành tổng thống. Không một lời báo trước, tiểu bang này đã quay lại ủng hộ George W. Bush. Đầu tiên, Gore gọi điện cho Bush thừa nhận thất bại nhưng vài tiếng sau lại phủ nhận vì sự chênh lệch giữa hai ứng cử viên không tới 1000 phiếu. Tiểu bang phải đếm phiếu lại một lần nữa. Cả Gore và Bush không người nào có đủ 270 phiếu đại cử tri cần thiết để trở thành tổng thống nên họ phải lệ thuộc vào Florida. Một vở kịch không tưởng kéo dài suốt 36 ngày với nhiều lần đếm phiếu và phán quyết mâu thuẫn của tòa án. Đến tháng Mười Hai, Tòa Án Tối Cao can thiệp và quyết định trao chiến thắng cho Bush. Mặc dù rất không đồng ý, Gore chấp nhận thất bại.

Bi kịch bầu cử năm 2000 đã làm nước Mỹ sôi sục và để lại sự cay đắng giữa hai đảng. Cuối cùng, Bush chiến thắng nhưng một giai đoạn thử thách đang chờ ông. Sau vụ khủng bố ngày 11 tháng Chín 2001, sự chia rẽ ở Hoa Kỳ tạm lắng xuống. Người Mỹ cả hai phía ủng hộ tổng thống và đường lối của đảng Cộng Hòa nhưng năm 2003, Bush quyết định xâm chiếm Irak. Cánh tả phản đối quyết liệt cuộc chiến tranh và phong trào phản chiến đè nặng lên nhiệm kỳ hai của Bush. Sau vụ khủng bố, 90% người Mỹ ủng hộ tổng thống nhưng đến năm 2008, tỷ lệ này chỉ còn 25%. Niềm tin vào đường lối của đảng trước kia giờ đã biến mất. Kết quả là hai đảng chỉ tìm cách tự chiến thắng và phần còn lại trong nước chịu thua thiệt. Chuyện này đặc biệt thấy rõ sau cuộc bầu cử tiếp theo vào năm 2008.

CƠN SỐT OBAMA

Trời nóng bất thường trong buổi tối ngày 04 tháng Mười Một 2008. Megha Agrawal nhớ rất rõ. Chân cô đi dép. Đây là chuyện không bình thường ở Chicago vào mùa này. Đó là đêm bầu cử ở Mỹ và quê nhà của Barrak Obama đang chuẩn bị ăn mừng người Mỹ Phi châu đầu tiên vừa trở thành tổng thống Hoa Kỳ. Trong cuộc trò chuyện của tôi với Megha khi cô đến thăm Oslo bảy năm sau, ký ức cùa cô về sự kiện này như vẫn còn nguyên vẹn. Cô kể chuyện rất sôi nổi. Megha là người Mỹ. Bố mẹ cô là người Ấn Độ di cư sang Mỹ. Khi Obama về lại nhà để ăn mừng chiến thắng, cô đang theo học tại một trường đại học trong thành phố. Để theo dõi đêm bầu cử, cô và vài người bạn tập trung trong một quán rượu nằm hẻo lánh trong phố. Họ buồn bã ngồi uống bia với nhau vì số chỗ tham gia buổi tổ chức sự kiện tranh cử chính thức cách đó vài khu phố đã bán hết.  Thình lình một người bạn gọi điện cho cô và yêu cầu cả nhóm đi về trung tâm. Và rồi sự có mặt của họ cũng chẳng có ý nghĩa gì trong buổi lễ khi toàn bộ trung tâm thành phố đã trở thành lễ hội vinh danh gia đình Obama.

Khi đi ra đường, Megha và bạn bè của cô gặp một biển người. Trên 240 000 người đổ về hướng Grand Park, khu vực xanh ở Chicago, để theo dõi kết quả bầu cử diễn biến suốt đêm. Hình ảnh người Mỹ đủ mọi lứa tuổi và màu da tươi cười xuất hiện trên TV khắp thế giới. Với hàng trăm ngàn người tham gia lễ hội, người ta có thể nói rằng đây là khoảnh khắc lịch sử. Megha kể lại thời gian thời gian trước cuộc bầu cử:

 Đối với tôi, sau khi lớn lên ở Texas, việc di chuyển đến Chicago là một cú sốc. Ở quê tôi, 100% là người cộng hòa nhưng ở Chicago, Obama là lựa chọn duy nhất cho mọi người. Ông rất lôi cuốn và có một thông điệp đầy hy vọng. Bạn bè của tôi trốn học để làm việc tự nguyện cho chiến dịch của ông.Tôi không nghĩ nhiều đến quan điểm chính trị của ông – đơn giản là tôi bị cuốn hút bởi năng lực tích cực.

Không chỉ một mình Megha cuốn theo làn sóng này. Chicago cũng không đơn độc với cơn sốt Obama trong những tháng trước cuộc bầu cử. Thượng nghị sĩ trẻ tuổi đến từ Illinois thu hút sự chú ý của hàng triệu người Mỹ với thông điệp hy vọng và thay đổi “Yes, we can”. Obama đọc thông điệp này trong các buổi họp bầu cử trên toàn quốc vào những tháng trước tháng Mười Một năm 2008. Obama không chỉ là hiện tượng ở Hoa Kỳ nhưng còn ở khắp thế giới. Hàng trăm ngàn người tập trung ở Berlin vào mùa hè để nghe ông nói chuyện trước cuộc bầu cử. Trước sự cổ võ vỗ tay tán thưởng, ông tuyên bố mình là công dân thế giới. Sau tám năm với George W. Bush, nhiều người bị  những lời hoa mỹ của Obama mê hoặc. Ông nói đến việc thay đổi “bộ máy chính trị hư hỏng” của Washington. Ông hứa sẽ khởi đầu một kỷ nguyên mới, nơi đảng Dân Chủ và Cộng Hòa cộng tác làm việc để giải quyết vấn đề thay vì đưa ra “mâu thuẫn chính trị đảng phái trẻ con” khiến họ mất khả năng điều hành đất nước (1). Thông điệp này đánh trúng tâm lý nhiều người – Obama vượt mặt John McCain với 10 triệu lá phiếu.

Khi Obama bước ra trước Quốc Hội tuyên thệ nhậm chức tổng thống ngày 20 tháng Giêng năm 2009, ông có thông điệp tương tự gửi đến người dân của mình:” Hôm nay chúng ta họp mặt để tuyên bố chấm dứt những bất đồng nhỏ nhặt, những lời hứa giả tạo, những cáo buộc lẫn nhau và những giáo điều thiển cận từ lâu đã bóp chết cuộc hội thoại chính trị”(2).

Không biết tân tổng thống nghĩ rằng ông có thể thay đổi được những gì ở Washington. Nhưng tối thiểu ông cũng phản ánh được hy vọng của 1,8 triệu con người tràn ngập các đường phố Washington ngày hôm đó. Chắc chắn Obama biết không phải ai cũng ưa thích thông điệp của ông. Có lẽ ông cũng đã nghi ngờ những người cộng hòa đang lập kế hoạch chống phá nhiệm kỳ tổng thống sắp tới của mình.

Buổi tối cùng ngày Obama nhậm chức, một nhóm người ăn mặc chỉnh tề tụ họp cách bộ ngoại giao Hoa Kỳ vài căn phố ở Washington D.C. Từng người một, các chính trị gia cộng hòa bước vào nhà hàng ẩn danh The Caucus Room. Trong phòng ăn, một quý ông lớn tuổi lên tiếng trước. Với mái tóc trắng cắt chải gọn gàng và khuôn mặt bầu bĩnh kèm với nụ cười thân thiện, người đàn ông này gợi nhớ đến hình ảnh một ông nội trong phim hoạt hình. Đó là Newt Gingrich, cựu chủ tịch Hạ Viện.

Mặc dù không còn có vai trò chính thức trong đảng Cộng Hòa, Gingrich vẫn cầm đầu cuộc họp với sự có mặt của các nghị sĩ quyền lực nhất trong đảng: lãnh đạo đa số sắp tới Erik Cantor, ngôi sao chính trị Paul Ryan và các thượng nghị sĩ giàu kinh nghiệm như Tom Coburn và Jim Ensign v.v…(3). Mục đích cuộc họp một chiều nhưng rõ ràng: lập chiến lược ngăn chặn Obama (4). Mọi người thống nhất quyết định khi rời nhà hàng vài giờ sau đó. Họ phản đối tất cả những gì tân tổng thống làm và từ chối tất cả những gì ông đề nghị. Khi đặt tay lên quyển kinh thánh vào ngày hôm sau và hứa sẽ tạo ra một âm điệu mới ở Washington D.C., Obama đã nói chuyện với những lỗ tai điếc. Obama hứa “ Yes, we can” trong khi những người cộng hòa nói nhỏ vào tai nhau “ No, we can’t”. Nhiệm kỳ tổng thống của Obama vì vậy không tượng trưng cho một kỷ nguyên không mang tính chính trị đảng phái, nhưng lại là giai đoạn phân cực mới đang trên đường lũng đoạn nền chính trị Hoa Kỳ.

Thời gian đầu của chính quyền Obama hỗn loạn khác thường. USA đang kẹt vào nhiều vấn đề dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Nguyên nhân là do rất nhiều người Mỹ không đủ khả năng trả khoản nợ họ vay ngân hàng để mua nhà. Hiệu ứng lan rộng và ảnh hưởng đến người dân bình thường, công nghiệp ô tô và các ngân hàng lớn. Trước khi Obama nhậm chức, Bush và Quốc Hội đã thông qua gói cứu trợ kinh tế. Tuy vậy, chính Obama là người dẫn đầu mọi nỗ lực cứu nền kinh tế đang dần sụp đổ. Vào tháng Hai năm 2009, Quốc Hội (hầu như chỉ có người dân chủ bỏ phiếu thuận) thông qua gói kích cầu kinh tế trị giá hơn 800 triệu dollars. Ngoài ra, ngành công nghiệp ô tô lớn ở Detroit cũng được hỗ trợ tài chính trong cuộc khủng hoảng.

Phong trào Đảng Trà

Không phải ai cũng ủng hộ biện pháp trợ giúp giải quyết khủng hoảng. Ngày 19 tháng Hai 2009, Rick Santelli, một trong những nhà bình luận chính thức của kênh truyền hình CNBC, tham gia cuộc phỏng vấn trong chương trình buổi sáng (5). Quỹ đầu tư Hedge fund rất tức giận trước chiến lược cứu nguy nền kinh tế của Obama. Quỹ này cho rằng cứ để mặc những người vay nợ mua nhà tự lo liệu chuyện của họ. Những ai đồng ý với Santelli nên cùng thành lập “Đảng Trà Chicago” (Chicago Tea Party). Ông lấy cái tên này từ Đảng Trà Boston (Boston Tea Party), một phong trào phản kháng năm 1773, đã góp phần khích động cuộc cách mạng Mỹ. Cuộc phỏng vấn với Santelli lan truyền nhanh chóng trên internet và truyền cảm hứng cho nhiều cuộc biểu tình trên khắp nước Mỹ trong các tuần sau đó. Nhiều nhóm xuất hiện lấy chung cái tên Tea Party nhưng khởi điểm không phải là một nhóm có tổ chức (6). Phong trào Đảng Trà phát triển có lẽ do sự thất vọng của cử tri nhưng cũng vì nguyên nhân từ trước. Newt Gingrich khởi động cuộc phản kháng bằng cách tập họp lực lượng cộng hòa chống lại Obama. Khi cuộc biểu tình đầu tiên của Đảng Trà quốc gia được công bố ở Washington D.C., Gingrich đã nhanh chóng xuất hiện trên Fox News để quảng bá nó (7). Glen Beck, người dẫn chương trình, cũng cổ động cho phong trào trên kênh truyền hình này. Truyền thông bảo thủ đóng vai trò trung tâm trong việc truyền bá về liên minh mới. Nó ảnh hưởng mạnh đến mức những người ủng hộ phong trào Đảng Trà đã đưa ra những khuôn mặt lãnh đạo chung: đó là Glen Beck và cựu ứng cử viên phó tổng thống Sarah Palin (bà cũng đang làm việc cho Fox News vào thời điểm đó). Thống kê cho thấy nhiều người da trắng trong Tea Party là tín đồ của hệ phái Tin lành phúc âm (evangelical) mặc dù việc tham gia của họ không có mối liên hệ chính thức nào với cánh hữu sùng đạo (8). Trái lại, các nhà vận động hành lang NRA lại tham gia mạnh mẽ vào phong trào. Khi những người đam mê vũ khí tổ chức cuộc họp thường niên vào năm 2010, Wayne LaPierre, chủ tịch NRA, đã sắp xếp một buổi họp bí mật với hơn 100 người ủng hộ Tea Party (9). Nhưng NRA không phải là tổ chức lợi ích duy nhất có quan hệ với phong trào mới này. Ngày càng nhiều nhóm Tea Party cùng thành lập Ủy Ban Hành Động Chính Trị (Political Action Commettees) với mục đích gây quỹ cho chiến dịch bầu cử và giúp các ứng cử viên chính trị hay hỗ trợ dự luật (10). Đây là bước tính toán hợp lý vì phong trào Tea Party đang có nhiều kế hoạch đáng sợ dành cho cuộc bầu cử giữa kỳ sắp tới (10). Trong mùa Hè năm 2010, cuộc tranh luận chuyển từ khủng hoảng tài chính sang cải cách y tế. Phong trào Tea Party cũng thay đổi đề tài và quyết liệt chống lại cải cách được gọi là Obamacare (11). Những người biểu tình ủng hộ phong trào Tea Party miêu tả Obama là Hitler, thằng hề trong phim Batman và Stalin. Những tấm áp phích cho thấy họ lo sợ đủ mọi thứ, từ chế độ nhà nước chuyên chế đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa phát xít. Những cuộc biểu tình dữ dội biểu hiện sự phân cực đã gia tăng đến mức đáng ngại.

Phong trào phản đối Obama đã ảnh hưởng đến cuộc bầu cử giữa kỳ vào mùa Thu. Đảng Cộng Hòa đạt được thắng lợi lớn nhất kể từ năm 1938. Họ giành lại 60 ghế ở Hạ Viện. Sự thành công này qua mặt cả kết quả ấn tượng của Gingrich năm 1994. Đảng Dân Chủ vẫn giữ được đa số ở Thượng Viện. Phong trào Tea Party đóng vai trò trung tâm trong chiến thắng lần này và đã thành công trong việc đưa hơn 40 ứng cử viên của mình vào Quốc Hội. Tờ báo The Guardian của Anh cho rằng cuộc bầu cử này là dấu hiệu khởi đầu một kỷ nguyên chính trị mới ở Hoa Kỳ (12). Đó là một quan sát chính xác bởi vì các tân nghị sĩ đến Washington với mục tiêu cắt giảm chi phí của chính phủ bằng mọi giá . Vài năm sau, các chính trị gia Tea Party này đưa ra sáng kiến đóng cửa nhà nước trong lần shutdown năm 2013 như chúng ta đã thấy trong chương đầu của cuốn sách này.

Chính sách lưỡng đảng sụp đổ   

 Sau “cuộc cách mạng Tea Party”, Obama và đảng Dân chủ mất đa số trong Quốc Hội. Buổi tối trước lễ nhậm chức của Obama năm 2008, đảng Cộng Hòa đã dứt khoát chống lại tổng thống và họ giữ vững lập trường. Obama ngày càng thất vọng và phải bỏ lời hứa tạo sự hợp tác giữa hai đảng. Sau khi đảng Cộng Hòa chiếm đa số ở Thượng Viện, Obama dường như hoàn toàn đầu hàng. Trong bài phát biểu trước Quốc Hội năm 2014, tổng thống cảnh báo giờ đây ông sẵn sàng hành động không cần họ. Trong những năm sau đó, bằng lệnh của tổng thống, ông ký các quy định xiết chặt việc xả khí thải từ xe tải và nhà máy nhiệt than (13). Ngoài ra, ông cũng tăng mức lương tối thiểu cho một số nhân viên nhà nước, cố gắng xiết chặt luật sở hữu vũ khí và cấp giấy phép cư trú tạm thời cho hàng trăm ngàn người di dân không có giấy tờ (Tòa Án Tối Cao đã bác bỏ nỗ lực này).

Người Cộng Hòa nổi giận nói rằng gã đàn ông trong Nhà Trắng tưởng mình là vua hay hoàng đế (14). Chuyện này cũng chẳng làm Obama phiền lòng vì Đảng Cộng Hòa đã từ chối hợp tác trong mọi vấn đề suốt bao nhiêu năm. Ông đứng trước hai chọn lựa: hoặc trở thành tổng thống vịt què trong bốn năm hoặc là một “ông vua” ít nhất cũng hoàn thành được vài công việc. Obama từ bỏ lời nói đầy hứa hẹn về sự hợp tác từ năm 2008 là dấu hiệu rõ ràng cho thấy sự tương tác chính trị giữa hai đảng sắp sụp đổ. Việc làm này khiến ông trở thành kẻ tòng phạm trong sự phân cực vốn đã bám rễ trong hệ thống chính trị và cử tri trừng phạt đảng của ông vì chuyện này.  

Khi Obama giành chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 2008, đảng Dân Chủ kiểm soát 59% quốc hội tiểu bang và có 29 thống đốc. Năm 2016 họ chỉ còn 31% và 16 thống đốc (15).

Trong bối cảnh chia rẽ giữa người Mỹ với nhau đã đi xa đến mức độ nào, người ta có thể hiểu cả sự cản trở của đảng Cộng Hòa lẫn việc Obama muốn thực hiện đường lối riêng của mình. Việc phân loại cử tri bắt đầu từ những năm 1960 vẫn chưa chấm dứt và đường phân cách giữa hai đảng đang được các chính trị gia, các thành phần lợi ích và phương tiện truyền thông ngoài truyền thống củng cố. Từ đó, cơ hội khai thác các đường phân cách này rộng mở. Và Donald Trump chờ sẵn ở hậu trường.