PHẬT GIÁO VN TRONG CƠN NGHIỆP CHƯỚNG THỜI XHCN

27/03/2019

Nhiều tác giả

Một thời Phật học rực rỡ

Mạnh Kim, VOA, 27/03/2019

Khó có thể quên những tên tuổi khổng lồ Thích Minh Châu, Kim Định, Vũ Văn Mẫu, Tôn Thất Thiện, Bửu Lịch, Nguyễn Xuân Lại, Ngô Trọng Anh, Phạm Công Thiện, Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát, Dương Thiệu Tống, Lê Tôn Nghiêm, Ngô Trọng Anh, Vũ Khắc Khoan, Bửu Lịch, Tôn Thất Thiện… Họ là những người nhẹ nhàng đặt từng viên gạch nặng chịch góp phần dựng lên tòa lâu đài tưtưởng vĩ đại của Phật học, trên nền tảng triết lý “Duy Tuệ Thị Nghiệp” (tạm hiểu : lấy việc phát triển trí tuệ làm căn bản). Tiếc thay, tòa lâu đài dang dở đã bị đánh sập sau năm 1975.

phat1

Một di tích khc g ti chùa Vĩnh Nghiêm. Hình minh ha.

Thập niên 1960 và nửa đầu những năm 1970 là sự bùng nổ của sách triết học và Phật học tại miền Nam. Trong Văn học miền Nam tổng quan, ông Võ Phiến thuật : “Tạp chí Giữ Thơm Quê Mẹ(xuất bản từ tháng 7/1965), tạp chí Vạn Hạnh (xuất bản từ tháng 1/1970), Viện Đại học Vạn Hạnh, Nhà xuất bản Lá Bối (ra đời tháng 10/1964), bấy nhiêu cơ sở văn hóa qui tụ văn nghệ sĩ, trí thức để phát huy ảnh hưởng văn hóa Phật giáo. Ảnh hưởng ấy rộng rãi và mạnh mẽ… Ngoài ra nhiều nhà xuất bản khác cùng đua nhau in sách về Phật, về Thiền của những Suzuki, Krishnamurti, sách dịch Chí tôn ca (Bhagavad Gita)… Hương thiền tỏa rộng và thấm sâu vào thi ca”…

Bằng chứng rõ nhất của sự phát triển rực rỡ nền Phật học tại miền Nam trước 1975 là sự ra đời Viện Đại học Vạn Hạnh. Thành lập năm 1964, Vạn Hạnh là đại học Phật giáo đầu tiên tại Việt Nam. Từ sĩ số niên khóa đầu với 700 sinh viên, đến năm 1975, Vạn Hạnh đã có gần 14.000 sinh viên. Đóng góp của Vạn Hạnh không chỉ với Phật học. Đại học này còn có phân khoa Văn học, Khoa học Nhân văn, Khoa học Xã hội, Giáo dục, Ngôn ngữ… Chỉ sau vài năm thành lập, Vạn Hạnh đã nổi như cồn, trở thành hội viên Hiệp hội Đại học Đông Nam Á lẫn Hiệp hội Khoa Học Xã Hội Đông Nam Á. Vạn Hạnh quy tụ gần như đầy đủ tinh hoa trí tuệ thuộc hàng thâm sâu và uyên bác nhất của nền học thuật khai phóng miền Nam, trong đó có ông Phạm Công Thiện, người được thầy Viện trưởng Thích Minh Châu giao nhiệm vụ soạn tất cả chương trình giảng dạy cho tất cả phân khoa Viện Đại học Vạn Hạnh từ năm 1966-1968. Ông Phạm Công Thiện sinh năm 1941. Khi viết cuốn Tiểu luận về Bồ Đề Đạt Ma và về làm việc cho Vạn Hạnh năm 1964, ông Phạm Công Thiện chỉ mới 23 tuổi và chưa từng tốt nghiệp bất cứ trường đại học nào. Vạn Hạnh không chỉ giảng dạy. Đây là nơi khai sinh ra tạp chí Tư Tưởng. Gọi là “tạp chí” nhưng ấn phẩm này là tập sách khảo cứu nặng ký cả nghĩa bóng lẫn đen. Có quyển dày đến gần 500 trang !

Lấy “Duy Tuệ Thị Nghiệp” làm kim chỉ nam, Viện Đại học Vạn Hạnh lẫn tạp chí Tư Tưởng đã thắp lên ngọn đuốc khai phóng cho nền học thuật nước nhà. Ấn bản tháng 3/1973, chủ đề của TưTưởng là “Hướng về Quốc học” ; ấn bản tháng 8/1969 là “Số đặc biệt về xã hội học và chính trịhọc” ; ấn bản tháng 6/1973 là “Giáo dục cho ngày nay và ngày mai” (với các tác giả Thích Nguyên Hồng, Vũ Đức Bằng, Nguyễn Văn Trường, Đoàn Viết Hoạt, Phan Hồng Lạc, Lê Kim Ngân)…

Ngọn đuốc Vạn Hạnh nói riêng và Phật học nói chung đã tắt phụt sau 1975. Tuệ Sĩ, Lê Mạnh Thát, Thích nữ Trí Hải bị tù. Vạn Hạnh bị xóa sổ. Phật học không rơi vào “hố thẳm tư tưởng” mà lọt sâu xuống hố trầm luân. Cần nhắc lại, chỉ 5 năm sau khi thành lập, Viện trưởng Vạn Hạnh, thầy Thích Minh Châu, đã có thể tự hào kể : “Đại Học Vạn Hạnh tuy mới năm tuổi, nhưng đã ghi được một vài tiến bộ đáng kể… Mặc dù hãy còn nhỏ bé, Đại Học Vạn Hạnh cố gắng bao gồm tất cả những phạm vi hoạt động của một trường đại học kiểu mẫu. Thư viện Đại học chiếm gần trọn lầu 3 và 4 của tòa nhà. Đó là một trong số những thư viện lớn và tối tân nhất ở Việt Nam… Phòng tham khảo rất hãnh diện có nhiều bộ sách bách khoa và tự điển của nhiều ngôn ngữ, gồm cả Sanskrit, Pali, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Trung Hoa… Tất cả Tam Tạng Kinh điển quan trọng của Phật giáo đều có ở đây : Sanskrit, Pali, Trung Hoa, Nhật Bản, Miến Điện, Thái Lan (thư viện mới thỉnh thêm bộ Tam Tạng Đại Hàn). Sách phân loại theo hai phân bộ. Phân bộ Phật Học và Phân Bộ Thế Học. Toàn bộ sách của Thư viện bây giờ có khoảng trên 20.000 cuốn…” (dẫn theo tài liệu lưu trữ của Ban tu thư Vạn Hạnh).

Ấy thế, trong bài viết trên trang cá nhân ngày 16-12-2018, nhà nghiên cứu Nguyễn Lương Hải Khôi (học triết tại Nhật) thuật : “Thư viện Đại học Vạn Hạnh có hàng vạn cuốn phim quay lại bản gốc các cuốn sách cổ của các nền văn minh trong lịch sử… Những cuốn phim đó được lưu trữtrong các thùng bằng nhựa tốt, rất dày. Sau 1975, chiến sỹ ta thực hiện chủ trương vô sản hóa trí thức, tích cực tăng gia sản xuất trong trường đại học, bèn dồn tất cả phim vào một số ít thùng nhựa, số thùng còn lại thì đổ nước vào… nuôi cá. Những thùng nuôi cá vẫn đặt cạnh thùng chứa phim trong thư viện nên chỉ sau vài tháng, tất cả các cuộn phim đều bị mốc, đành phải vứt bỏ”…

“Hơn 10 năm trước, tôi (Nguyễn Lương Hải Khôi) bắt đầu làm việc tại trường đại học đã tiếp quản Đại học Vạn Hạnh, xin được giấy phép vào đọc kho sách ngoại văn trước 1975… Ở hai mảng sách tiếng Anh và tiếng Nhật, thuộc các lĩnh vực triết học, văn hóa, văn học, lịch sử…, Vạn Hạnh đã cập nhật những dòng tư tưởng nóng hổi nhất đương thời… Miền Bắc không chỉ giải phóng miền Nam khỏi những văn bản cổ của văn minh nhân loại hay những trước tác nóng hổi nhất trên thế giới nửa thế kỉ trước, miền Bắc chúng ta đã giải phóng họ khỏi một nền đại học được xây dựng trên ý niệm tự do. Trong số sách Thư viện Vạn Hạnh còn sót lại, có một loại sách đặc biệt, do trường xuất bản, in những bài phát biểu của các diễn giả được mời đến nói chuyện và tranh luận với giảng viên, sinh viên của trường. Đọc những cuốn sách đó, bạn sẽ nhận ra Đại học Vạn Hạnh đương thời giống như một diễn đàn khổng lồ của xã hội dân sự, nơi tất cả các xu hướng tư tưởng khác nhau đều được cất lên tiếng nói của mình, từ chống cộng sản đến chống Hoa Kỳ, ủng hộ miền Bắc đến ủng hộ Việt Nam Cộng hòa… Tất cả đều có một không gian bình đẳng để giải thích vì sao họ suy nghĩ và hành động như vậy. Lúc đó tôi đã tự hỏi, giữa Sài Gòn thời đó thì có những tiếng nói chống lại hệ thống cộng sản là đương nhiên, nhưng tại sao chế độViệt Nam Cộng hòa lại để cho Đại học Vạn Hạnh (và đương nhiên không chỉ Vạn Hạnh) trở thành nơi những người chống lại mình có thể phát biểu tư tưởng ? Câu trả lời nằm ở Hiến pháp 1967 của họ : Đại học là tự trị”…

Ở những trang cuối tạp chí Tư Tưởng, số 5, ngày 1/10/1969, có phần “Tin tức Vạn Hạnh”. Đọc lại thấy ghi :

“Thượng tọa Thích Minh Châu, Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh, đã kết thúc cuộc thăm viếng và dự hội nghị quốc tế tại 6 nước : Hoa Kỳ, Mễ Tây Cơ, Áo quốc, Pháp, Anh, Đức đã trở về Sài Gòn vào lúc 12g40 ngày 18 tháng 9 năm 1969 trên chuyến máy bay của hãng Pan Am. Ngoài việc dự Hội nghị về “Hướng nghiệp giáo dục” tại Mễ Tây Cơ và Hội nghị về “vai trò của Đại học trong việc mưu cầu hòa bình” tại Vienne, Áo quốc, Thượng tọa còn ghé Hoa Kỳ thăm sinh viên của Viện hiện đang du học tại Mỹ quốc, ghé Luân Đôn thăm các trường Đại học Anh quốc trong một tuần lễ do lời mời của Bộ Ngoại giao Anh, ghé Đức và Pháp để thăm các cơ sở giáo dục và mời Giáo sư về dạy tại Viện…

Tại Anh quốc, Trường Giáo dục và Khoa học Á Phi (Deparment of Education and Science School of Oriental and Africa Studies) đã xin đặt sự liên lạc với Thư viện Vạn Hạnh. Bộ Phát triển Hải ngoại hứa cấp Vạn Hạnh 5 học bổng và tặng Thư viện 1 ngàn bảng Anh để mua sách tại Anh. Đại học Oxford hứa sẽ cấp học bổng cho sinh viên Vạn Hạnh. Cơ quan Oxfam hứa giúp thêm cho 2 Cô nhi viện Phật giáo vay số tiền từ 2 triệu đến 3 triệu để lập cơ sở sinh lợi tự túc (lò mì, máy nước đá…) giúp trang bị vật dụng cho một số ký nhi viện, và giúp thành lập một trường Trung học Kỹ thuật cho hệ thống Bồ đề… Tại Đức, Thượng tọa đã đi thăm vùng Bayern, Viện Đại học Munich, Goethe Institut, Trung tâm Chính trị học Ludwigstr, Thư viện quốc gia, Đại học Rumfordstr, một trung tâm nguyên tử lực. Viện Đại học Munich đã thỏa thuận đặt sự liên hệ với Viện Đại học Vạn Hạnh (Viện Đại học Munich sẽ mời Đại đức Khoa trưởng Văn khoa và Giáo sưKhoa trưởng Khoa học Xã hội sang thăm Viện Đại học này trong vòng 1 tháng để thảo luận việc đặt sự liên hệ giữa 2 Viện)”.

Cách đây 50 năm, nền Phật học Việt Nam đã phát triển đến mức đó ; 50 năm sau những gì Viện Đại học Vạn Hạnh từng làm được, Học viện Phật giáo Việt Nam ngày nay “là cơ sở giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học của Phật giáo, thuộc hệ thống giáo dục quốc dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập theo quyết định của UBND Thành phố Hồ Chí Minh, số 160/QĐ-UB ngày 17/10/1983”. “Phật học xã hội chủ nghĩa” phải được “rọi chiếu” thêm “ánh sáng của Đảng”. Cần nhắc lại, trong thông báo tuyển sinh thạc sĩ Phật học khóa II (2017-2019), Học viện Phật giáo Việt Nam đã nêu rõ yêu cầu : đối tượng dự thi là cử nhân Phật học và trong các môn dự thi có “Triết học Phật giáo và Mác-Lênin” ! 50 năm trước, Viện Đại học Vạn Hạnh không chỉ đóng góp cho nền học thuật khai phóng và tự do của nước nhà mà còn xây dựng được uy tín cho Phật giáo Việt Nam. 50 năm sau, Học viện Phật giáo của Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã làm được gì và Phật giáo Việt Nam đã bị biến tướng thành gì ?

Có ai còn nhớ lời thống thiết của thầy Thích Minh Châu trong lời mở đầu số ra mắt của tạp chí TưTưởng (tháng 8/1967) :

“Chúng tôi chỉ muốn lễ độ báo nguy với tất cả chúng ta rằng không phải lời nói là quan trọng, không phải im lặng là quan trọng, mà cũng không phải hành động là quan trọng, cũng không phải vô vi thụ động là quan trọng. Chỉ có một điều duy nhất quan trọng, chỉ có một điều quan trọng tối thượng là mỗi người phải dám nhìn thẳng bộ mặt thực của chính mình, tự hỏi rằng mình có lường gạt mình bằng những đường lối tinh vi ; mỗi người phải tự hỏi rằng mình có thực sự tự do trong tư tưởng ; mỗi người phải tự hỏi rằng mình có thực sự giải phóng khỏi tất cả sựsợ hãi trong ý thức và vô thức ; mỗi người phải tự hỏi rằng mình có thực sự tiêu trừ hết mọi tham vọng, dù là tham vọng tâm linh”….

Mạnh Kim

Nguồn : VOA, 27/03/2019

******************

Giáo hội Phật giáo Việt Nam có biện pháp đối với vụ chùa Ba Vàng

Diễm Thi, RFA, 26/03/2019

Chiều ngày 26/3, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đề xuất tạm đình chỉ tất cả các chức vụ trong giáo hội của trụ trì chùa Ba Vàng, Đại đức Thích Trúc Thái Minh, với lý do ‘vi phạm hiến chương, làm tổn thương đến thanh danh của Giáo hội, tăng đoàn.’

phat2

Chùa Ba Vàng – Photo : facebook chuabavang

Thượng tọa Thích Nhật Từ, trụ trì chùa Giác Ngộ, một chùa trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhận định việc làm này của Giáo hội là kịp thời. Ông phân tích :

“Tôi cho rằng cách xử lý của mảng truyền thông về vụ chùa Ba Vàng là kịp thời. Hôm 20/3 báo Lao Động phổ biến tin gây xôn xao dư luận thì giới Phật tử Việt Nam tỉnh Quảng Ninh ra công văn xác định đó là tà pháp. Đến ngày 21/3 thì Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng đã ra công văn xác nhận việc này sai với triết lý nhà Phật và yêu cầu đình chỉ.

Chiều 26/3, Hội đồng trị sự Phật giáo Việt Nam đã họp hai tiếng rưỡi. Sở dĩ đến hôm nay mới họp vì Giáo hội cũng chờ kết quả kiểm tra ban đầu của UBND thành phố Uông Bí. Sau khi có kết quả kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền Giáo hội mới có tiếng nói cuối cùng, vì vấn đề báo chí quan tâm, thứ nhất là phương pháp thỉnh vong, quy định giá cả có phải của Phật giáo hay không, thứ hai là có dấu hiệu vi phạm pháp luật hay không. Những cái đó là về phía luật pháp, nên phía Giáo hội phải chờ có kết quả mới đề xuất hình thức kỷ luật được”.

Hòa thượng Thích Không Tánh thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, giáo hội không được sự công nhận của Nhà nước thì cho rằng đây chỉ là xoa dịu dân :

“Trước dư luận quần chúng thì Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng là hệ thống đảng ra quyết định tạm đình chỉ để xoa dịu dân thôi, chứ việc lớn như vậy mà chỉ đình chỉ một vị trụ trì, rồi có thể vị này lại qua chùa khác như từng xảy ra với các quan chức chính quyền thôi. Tôi nghĩ Giáo hội Phật giáo Việt Nam phải thay đổi vì sự việc chùa Ba Vàng xảy ra có trách nhiệm rất lớn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam”.

Những việc làm của chùa Ba Vàng đã xảy ra từ nhiều năm trước. Hai năm trước Giáo hội Phật giáo tỉnh Quảng Ninh đã có văn bản báo cáo Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Quảng Ninh, đề nghị ngăn chặn hoạt động mê tín dị đoan diễn ra tại chùa Ba Vàng, nhưng ý kiến của Giáo hội Phật giáo tỉnh Quảng Ninh rơi vào im lặng. Phó Giáo sư Tiến sĩ Trịnh Hòa Bình từ Hà Nội nhận định :

“Tôi dám chắc là họ lên tiếng vì họ thấy có phần trách nhiệm thôi và thấy nó đổ bể đến nơi rồi, chứ xung quanh câu chuyện đó thì có những lợi ích, và vì lợi ích thì họ không mở được miệng”.

Thầy Thích Tâm Vượng, Phó ban trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Vĩnh Phúc thì lên tiếng rằng Giáo hội có làm việc với bên chính quyền nhưng chính quyền không phản hồi :

“Những việc làm không minh bạch theo giáo lý Phật giáo khiến quần chúng nhân dân phẫn nộ nên trước mắt thì căn cứ theo luật tín ngưỡng tôn giáo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam kết hợp với chính quyền để giải quyết nhưng chính quyền không có ý kiến phản hồi gì”.

Theo nhận định của nhiều người trên mạng xã hội thì Giáo hội Phật giáo Việt Nam phải chịu trách nhiệm lớn trong vụ chùa Ba Vàng, ngôi chùa thuộc sự quản lý của Giáo hội. Nhưng theo một số người thì vấn đề không đơn giản. Giáo sư Trịnh Hòa Bình nhận xét :

“Chính quan điểm của các vị chức sắc bên Giáo hội Phật giáo họ cũng đã nói họ không chủ trương như thế và cũng khuyến cáo không cho các thành viên trong Giáo hội làm điều đó. Còn giữa lời nói với việc làm, với sự chỉ đạo của các bậc lãnh đạo cao cấp của họ có thể vẫn còn khoảng cách, nhưng rõ ràng quan điểm của họ là những việc này không phải việc bên Giáo hội”.

phat3

Bên trong khuôn viên chùa Ba Vàng. Photo : fb chuabavang

Trong văn bản số 066 của Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam ban hành chiều 26/3, Giáo hội cũng thừa nhận trách nhiệm của mình. Vậy Giáo hội Phật giáo Việt Nam có cần phải chấn chỉnh, thay đổi gì không, Thượng tọa Thích Nhật Từ nêu ý kiến :

“Tôi nghĩ việc điều chỉnh chắc chắn phải có, cho nên trong công văn ban hành vào lúc 5 giờ chiều ngày 26/3, trong mục 3 có ghi rất rõ là ’Ban thường trực Hội đồng trị sư Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Ninh nhận thấy đã buông lỏng trong công tác quản lý tăng sự tại chùa Ba Vàng’. Tức họ thừa nhận nghiêm túc và công khai sự buông lỏng quản lý. Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Quảng Ninh báo cáo vụ việc lên Giáo hội Trung ương nhưng Giáo hội lại không xử lý nên mới xảy ra sự việc trên. Họ có tinh thần cầu thị và tiếp thu nghiêm túc sự việc trên”.

Thầy Thích Tâm Vượng giải thích rằng tất cả các vị trụ trì đều là thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nên trong vụ chùa Ba Vàng, kỷ luật thầy trụ trì chùa tức là đã có sự chấn chỉnh giáo hội. Ông khẳng định :

“Tất nhiên phải chấn chỉnh chứ, vì tất cả các vị trụ trì đều là thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhưng nó cũng có nhiều vấn đề lắm. Đâu phải chỉ trong Giáo hội đâu, đôi khi có những quan hệ này khác cản trở…”.

Về việc kỷ luật vị sư trụ trì chùa Ba Vàng, Thượng tọa Thích Nhật Từ cho rằng giải pháp tạm thời hiện nay cũng là giải pháp thích đáng để những nơi có những hoạt động sinh hoạt Phật pháp chưa phù hợp với triết lý Phật giáo hiểu. Ông nói thêm rằng có lẽ ngày 27/3 mới có quyết định cuối cùng.

Chùa Ba Vàng không phải là ngôi chùa duy nhất có những sai phạm được cho là sai với giáo lý nhà Phật. Những ngày đầu Xuân 2019, báo chí trong nước ghi nhận hàng vạn người dân tràn kín lòng đường trước chùa Phúc Khánh, Hà Nội để tham dự lễ dâng sao giải hạn.

Thông tin chính thức cho thấy Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức Phật giáo toàn quốc của Việt Nam, là đại diện tăng, ni, Phật tử Việt Nam. Giáo hội này được thành lập sau Hội nghị thống nhất Phật giáo Việt Nam tổ chức tại Chùa Quán Sứ, Hà Nội vào ngày 7 tháng 11 năm 1981 nhằm thống nhất tất cả sinh hoạt Phật giáo của tăng ni, phật tử Việt Nam. Đây là Giáo hội Phật giáo duy nhất được Nhà nước công nhận.

Diễm Thi

Nguồn : RFA, 26/03/2019

*********************

Khẩu nghiệp

Mặc Lâm, VOA, 26/03/2019

phat4

Nguyên thứ trưởng ngoi giao Nguyn Thanh Sơn. (Hình trích t trang YouTube Nguyen Tuan Anh)

Sau khi gỡ bỏ nhiều bài viết trong chuyên mục “thỉnh oan gia trái chủ”, website chùa Ba Vàng không vào được vì “đang trong quá trình nâng cấp”, tuy nhiên cũng trong cùng một ngày, một video clip trên trang Youtube xuất hiện một người đăng đàn bênh vực cho Chùa Ba Vàng.

Nếu là một Phật tử hay một tu sĩ thì đây là một việc hay, đáng suy gẫm nhưng người lên tiếng là một nguyên lãnh đạo cao cấp của hệ thống quyền lực Việt Nam : Nguyên Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, từng nổi tiếng khi Việt kiều chống lại chuyến thăm của Chủ tịch Trương Tấn Sang tới Mỹ ông Sơn đã tuyên bố “họ đi biểu tình vì vẫn còn hận thù và muốn có tiền thù lao”.

Hiếm khi có một cán bộ cấp cao như ông Sơn đăng đàn bênh vực cho một scandal như Chùa Ba Vàng mà các bài báo, hình ảnh, video clip cùng nhiều nhân chứng đã chống lại ngôi chùa này một cách quyết liệt, chưa từng xảy ra tại Việt Nam.

Mở đầu bài nói chuyện, ông Nguyễn Thanh Sơn đi thẳng vào vấn đề, ông cho rằng báo Lao Động khi đăng tải loạt bài Chùa Ba Vàng là “vội vàng khi vụ việc chưa chín muồi”. Tuy nhiên ông Sơn không cho biết khi nào thì vụ này mới được gọi là chín muồi trong khi phóng viên tờ báo đã âm thầm làm việc trong hơn hai tháng, những ghi nhận tại chỗ có hình ảnh, âm thanh, phỏng vấn… tất cả những việc làm này đối với giới báo chí là theo đúng những đòi hỏi của ngành. Nhóm phóng viên đã cẩn thận trong từng chi tiết, người đọc không tìm ra bất cứ một chứng cớ ngụy tạo nào để câu view hay đánh phá cá nhân của vị sư trụ trì là Đại đức Thích Trúc Thái Minh, vì vậy phê bình tờ báo “vội vàng khi vụ việc chưa chín muồi” mà không đưa ra luận chứng cho thấy thái độ thiên lệch của ông cựu đại sứ đối với Chùa Ba Vàng.

Ông Nguyễn Thanh Sơn khẳng định rằng “Chùa Ba vàng rất hiệu quả trong việc hội tụ được hàng ngàn người trong đó có những trí thức, kỹ sư, bác sĩ nếu mà nói thầy (Thích Trúc Thái Minh) lừa là vô lý”.

Tín hữu của chùa Ba Vàng lên tới vài ngàn người là có thật, giống như mọi ngôi chùa hoành tráng khác tại Miền Bắc như Bái Đính, hay Phúc Khánh, Yên Tử… lúc nào số thiện nam tín nữcũng đến tham quan, cầu nguyện hay cúng bái rất đông. Tuy nhiên lấy số đông Phật tử hành hương, tham quan để nói rằng họ ủng hộ việc làm của sư sãi trong chùa Ba Vàng là ngụy biện.

Ba Vàng đang bị dư luận cả nước lên án vì đã “treo đầu dê bán thịt chó”. Nhân danh cửa Phật đểkinh doanh lòng tin của tín hữu khi công khai thuyết giảng và tổ chức lễ “oan gia trái chủ”, thỉnh vong về, giải oán hận từ kiếp trước với con người. Mà mỗi lần xin thỉnh vong giải oán người xin phải trả một số tiền lớn.

Trong cái đám đông mà ông Sơn nêu lên ấy có một bác sĩ từng làm chứng cho việc chữa bệnh của trụ trì chùa Ba Vàng về thuyết “oan gia trái chủ”. Đó là bác sĩ Nguyễn Hồng Phong, làm việc tại Khoa Nhi, bệnh viện Bạch Mai. Mới đây Bác sĩ Phong đã nhận lỗi và nói : “Tôi chân thành xin lỗi người dân, Ban Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, thầy dạy, đồng nghiệp trong ngành y vì phát ngôn của tôi đã gây hiểu nhầm, làm ảnh hưởng đến uy tín toàn ngành”.

Ông Nguyễn Thanh Sơn nhấn mạnh tới việc có nhiều nhà tu lên tiếng chống lại việc làm sai trái của trụ trì chùa Ba Vàng và ông cho rằng “Thời kỳ mạt pháp là thời kỳ mà tăng nói xấu tăng”. Ông Sơn cũng đưa ra hình ảnh của Đại hội Vesak, kỷ niệm Phật đản sinh, Phật thành đạo và Phật Niết bàn, hàng năm đã làm hãnh diện cho Phật giáo Việt Nam không nên vì một việc nhỏ như vụBa Vàng mà làm mất cảm tình của Phật giáo quốc tế.

Trong lời nói của ông Sơn, người ta thấy có thể ông muốn ám chỉ tới một cao tăng là Thượng tọa Thích Nhật Từ vì vị này là người lên tiếng sớm nhất, mạnh mẽ, thuyết phục và đầy đủ biện luận nhằm tố giác trụ trì chùa Ba Vàng trên các kênh thông tin đại chúng.

Nếu cho rằng tăng nói xấu tăng là mạt pháp thì có lẽ ông Sơn đã lệch lạc khi áp dụng kiến thức Phật học, mà ông tự cho là sơ đẳng của mình, vào câu chuyện này. Là một lãnh đạo cấp trungương, tự nhận là một Phật tử thuần thành nếu ông không biết các hoạt động của Thượng tọa Thích Nhật Từ đối với Phật giáo Việt Nam thì thật đáng tiếc cho ông, một nhà ngoại giao tầm cỡcủa Việt Nam đối với văn hóa nước nhà.

Thượng tọa Thích Nhật Từ là Trưởng khoa Triết học Phật giáo, Phó viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh. Thành viên Ban biên tập Đại Tạng kinh Việt Nam, Giám đốc hội Đạo Phật Ngày Nay. Bằng ấy chức vụ, Thượng tọa không thể hồ đồ khi cho rằng thuyết “Oan gia trái chủ” là tà thuyết, và vì vậy, ngược lại với cáo buộc của ông Sơn, thái độ can đảm vạch trần âm mưu xảo quyệt của những người đội lốt tu hành là thái độ hoằng pháp cần biểu dương trong tình hình Phật giáo sa sút hiện nay.

Ông Sơn kêu gọi “ém” những điều không tốt đẹp vì sắp tới là đại hội Vesak được tổ chức tại Việt Nam. Ông quên mất chính Thượng tọa Thích Nhật Từ là linh hồn của Vesak khi mang về Việt Nam. Thượng tọa từng nhận danh hiệu “Lãnh đạo xuất sắc Phật giáo thế giới”, The World Buddhist Outstanding Leader Award, do chủ tịch Hội đồng Tăng vương Thái Lan trao tặng do những đóng góp to lớn cho sự bang giao Phật giáo quốc tế qua các Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc từ năm 2006, 2008, 2014 đến nay.

Trong tư cách đó, nếu im lặng trước những cái xấu, cái mạt pháp của Phật giáo Việt Nam nhưông Sơn đề nghị thì không xứng đáng là một chân tu. Nhà tu không thể như người cộng sản, che giấu mọi lỗi lầm để dư luận vỗ tay rồi sau đó lỗi lầm tiếp tục phát sinh, tiếp tục cộng hưởng.

Ông cựu đại sứ còn nói “Chính phủ đã quan tâm tới các tôn giáo và Chùa Ba Vàng rất lớn rất tráng lệ có công của người trụ trì vì vậy chúng ta không thể đánh mất cái uy tín của Chùa Ba Vàng nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung. Công lao của những người xây dựng lên nó chúng ta không vội quy chụp vì nó có chuyện này chuyện khác”.

Bản thân một ngôi chủa nổi tiếng hay không hình thành từ nhiều yếu tố. Yếu tố lịch sử, kiến trúc cộng với danh tiếng của người trụ trì làm cho sự nổi tiếng của nó trường tồn. Nổi tiếng vì to lớn, hoành tráng sẽ không thể tồn tại khi mà người trụ trì trong đó thiếu sự thành tâm nhưng dư lòng dối trá.

Những việc làm trái giáo lý nhà Phật lẫn pháp luật mà Đại đức Thích Trúc Thái Minh đã làm khiến người ta lên án và nhiều cơ quan nhà nước đã vào cuộc điều tra, trong đó UBND tỉnh Quảng Ninh, Bộ Văn hóa, Ủy ban Tôn giáo chính phủ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam… là câu trả lời hay nhất mà ông Sơn cố tình bỏ qua. Ông chỉ thấy cái “tráng lệ” và kêu gọi người phật tử hãy ôm cái tráng lệ ấy để hãnh diện với thế giới, còn lòng thiện tâm trước cái xấu cái ác thì hãy im lặng vì… “đại cuộc”.

Mặc Lâm

Nguồn : VOA, 26/03/2019

****************

Vô thần tốt hay không tốt, luật nhân quả có hay không ?

Đoàn Bảo Châu, BBC, 26/03/2019

Có bạn phê phán rằng tôi có vẻ vô thần và điều ấy là không tốt, con người vô thần sẽ có xu hướng làm điều xấu bởi không tin ở luật nhân quả. Nói về điều này sẽ dài dòng một chút, nhưng cũng nên nói.

phat5

Một Phật tử Việt Nam (hình minh họa)

Tôi tôn trọng tất cả những tôn giáo dạy con người sống có lễ nghĩa, có trước sau, theo một trật tự hợp với tính thiện của con người. Khi xã hội làm được vậy, ấy là một xã hội có đạo.

Tôi không tin ở kiếp trước, kiếp sau, đơn giản là bởi kiến thức, suy nghĩ lô-gic và trải nghiệm của tôi là vậy và điều ấy không phải là một cái tội.

Người ta sống tốt không phải vì cái suy nghĩ là mình làm điều tốt để kiếp sau mình được hưởng phúc. Ta làm điều tốt bởi điều ấy khiến cái bản thể hướng thiện của ta cảm thấy thế là đúng và do vậy mà lòng ta vui.

Làm điều tốt để mưu cầu điều tốt hay ích lợi đến với mình trong tương lai, điều ấy không sai nhưng làm thấp đi một chút tính cao thượng trong tâm người, nó có hơi hướng giống như một sự đầu tư sinh lợi, một sự tính toán kinh tế.

Nếu bản thể của ta là chân, thiện, mỹ thì khi ta làm những điều chân, thiện, mĩ, lòng ta vui, ta cảm thấy cuộc sống của ta có ý nghĩa và ta có lòng tự hào, không cần sự khen ngợi từ bên ngoài. Người đời khen hôm nay, chê ngày mai, nhưng nếu ta có được cái nhận thức tự tại, ta sẽ an bình và vững vàng, không phụ thuộc khen chê của người, điều mà giống như làn gió luôn thay đổi.

Phật là người trần mắt thịt, sở dĩ Phật được tôn kính bởi trí tuệ của người quá siêu việt, giáo lý cuả Ngài quá sâu sắc, xuyên suốt, giải thích thấu đáo mọi sự vật, hiện tượng tự nhiên, mối quan hệ xã hội và quan trọng nhất là trong tâm người. Phật không có phép thần thông biến hoá, chỉ có bọn lợi dụng Phật để kiếm lợi mới có giả vờ mình có phép thần thông biến hoá để lừa đảo.

Nhờ thiền định tu luyện mà Phật có được khai ngộ sáng láng, chính vì vậy mà ngài bảo tính phật có trong mỗi người. Tính phật chính là những gì nhân bản nhất, thiện nhất, chân nhất của con người. Không xa lạ, không cao vời mà gần gũi trong mỗi bản thể, chỉ có điều có chịu nhìn vào tâm mình để mà tu luyện, để khai mở không hay thôi.

Giờ nói về luật nhân quả.

Luật nhân quả không xa xôi. Tôi không tin ở kiếp trước, kiếp sau không có nghĩa là tôi không tin ở luật nhân quả.

Bạn nhìn thấy một con vật đang đau đớn, bạn nói một câu nói thương xót, ánh mắt từ bi, cử chỉ chăm sóc dịu dàng… những điều ấy tác động đến chính con bạn. Sự lặp lại nhiều lần sẽ khiến nó thành đứa trẻ có lòng bi, có lòng thương yêu con vật và tất nhiên là thương yêu con người. Nó lớn lên sẽ sống yêu thương và chan hoà. Ấy là bạn đã gây nhân và đạt quả tốt.

Một quan chức quen đấu đá, thấy đồng chí đối thủ của mình ngã bệnh chết, buông lời hỉ hả, đứa con sẽ học được sự ác độc.

Một kẻ giầu có bởi BOT bẩn, bởi tiền cướp được nên coi thường đồng tiền, nhìn người chỉ nhìn vào tiền, trí tuệ tăm tối, buông lời khinh mạn người nghèo. Những đứa con của kẻ ấy lớn lên trong vàng bạc lấp lánh nhưng tâm hồn ô trọc, không thể hiểu được những gì đẹp đẽ của con người.

Một chính trị gia mánh khoé, chuyên nịnh trên nạt dưới, hèn với giặc, ác với dân, cả đời quay cuồng trong quyền tiền không thể dạy con một câu về tình thương yêu, về sự chân thành, về cái đẹp trong văn học nghệ thuật hay cái đẹp nói chung của cuộc sống con người. Mà nếu có mở mồm dạy thì chính hắn ta cũng tự hiểu là mình đang nói dối, sẽ ngượng mồm.

Cái thằng tấn công tình dục cô gái trong thang máy là hệ quả của một sự giáo dục như vậy. 8 năm trước, nó cũng đã chỉ biết dựa vào quan hệ để giải quyết vấn đề. Sự ngu xuẩn không dễ thay đổi. Từ nhỏ nó học được bài học bẩn nên nó thành một con người bẩn. Đến cái nụ hôn, một cái đẹp mà nó cũng chỉ biết hành xử bẩn để đạt được.

phat6

Ảnh tượng Phật chụp dịp lễ Phật Đản ở Hà Nội

Đấy là nhân xấu gây quả xấu.

Đấy chính là nhân quả, rất gần gũi dễ hiểu chứ không hề xa xôi.

Là con người, hãy tin ở tính thiện của con người. Tôn giáo có mặt tốt nhưng trong lịch sử nhân loại, chính mâu thuẫn tôn giáo đã gây ra đổ máu và bao đau khổ. Người đời theo tôn giáo này, chê tôn giáo kia, vậy là mâu thuẫn, nhỏ nhen hạn hẹp, do vậy mà không mang được lợi ích an bình cho xã hội.

Tin hay không tin ở tôn giáo không phải là vấn đề. Vấn đề đáng nói là tính chân, thiện, mĩ của con người.

Người cộng sản thời kì đầu đả phá tôn giáo, phá bỏ chùa chiền, thờ ông bà còn bị quy chụp là mê tín dị đoan. Giờ thì lại mê tín quá mức, quan chức xì xụp vái lậy, xoắn xuýt thầy bà. Đấy là do văn hoá sống nông cạn, không tin vào con người nên lúc thế này, lúc thế khác. Cả đời chỉ coi quyền lực, vị trí là quan trọng, bao thời gian chỉ lo đấu đá, lúc nào đọc sách, lúc nào suy ngẫm và thiền định đâu để hiểu sâu sắc những điều ấy.

Họ thực ra là những con người yếu kém về văn hoá, yếu đuối về tâm hồn, chính vì vậy mà họ hay sai lạc. Sai lạc nên không nhất quán, hay thay đổi, gió chiều nào che chiều nấy.

Tôi tôn trọng tôn giáo, trân trọng những giáo lý đẹp đẽ nhưng không hề tin một cách mê muội. Hơn hết là tôi tin ở con người, tôi tin ở chính tôi.

Mỗi kiếp người có một sứ mạng thiêng liêng và nếu ta tin ở điều ấy, ta sẽ làm được những điều tốt đẹp đáng kể.

Đoàn Bảo Châu

Nguồn : BBC, 26/03/2019

********************

Vụ chùa Ba Vàng có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự

Nguyễn Trang Nhung, RFA, 26/03/2019

Sáng ngày 26/3, UBND Thành phố Uông Bí, Quảng Ninh đã tổ chức hội nghị thông tin báo chí về sự việc tại chùa Ba Vàng, nơi thuyết giảng về nhân quả, vong nhập, báo oán, giải nghiệp để thu tiền dưới hình thức công đức.

phat7

Ông Nguyễn Mạnh Hà trả lời tại cuộc gặp gỡ báo chí sáng 26/3. Ảnh : Minh Cương

Tại hội nghị, chủ tịch UBND Thành phố Uông Bí – ông Nguyễn Mạnh Hà – cho biết đã giao cho UBND phường Quang Trung ra quyết định xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm quy định về nếp sống văn hóa của bà Yến, cụ thể là hành vi lợi dụng hoạt động thỉnh vong, gọi hồn để hành nghề mê tín dị đoan, căn cứ vào điểm a, khoản 2, Điều 15 Nghị định 158/2013 [1].

Mức phạt dành cho bà Yến là 5 triệu đồng, là mức phạt cao nhất của quy định này, do có tình tiết tăng nặng là vi phạm nhiều lần. Cùng với đó, theo quyết định xử phạt, bà Yến phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả trong thời hạn 10 ngày [2].

Theo ông Hà, công an thành phố đã thông báo không chấp nhận bà Yến tiếp tục hành nghề mê tín dị đoan tại chùa Ba Vàng [3].

Đây mới chỉ là bước xử lý ban đầu đối với sự việc. Ông Nguyễn Mạnh Hà còn cho biết chính quyền sẽ xử lý các hành vi vi phạm tiếp theo sau khi làm rõ. Ngoài ra, đối với xử lý hình sự thì còn chờ công an điều tra [4].

Hành vi của bà Yến có dấu hiệu cấu thành tội hành nghề mê tín, dị đoan theo Điều 320 Bộ luật Hình sự 2015. Đây là một trong các tội xâm phạm trật tự công cộng. Hành vi khách quan của tội này là “dùng bói toán, đồng bóng hoặc các hình thức mê tín, dị đoan khác” như một nghề nhằm mục đích trục lợi. 

Với thông tin mà báo chí đã công bố, có thể nghi vấn rằng bà Yến đã dùng ít nhất là hình thức đồng bóng trong hoạt động thỉnh vong, gọi hồn của mình để kiếm tiền sinh sống. Nếu nghi vấn này được khẳng định qua hoạt động điều tra của công an, bà Yến có khả năng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này với hình phạt từ 3 đến 10 năm tù, theo điểm c (“gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”), khoản 2, Điều 320. Nếu hành vi rơi vào cả trường hợp của điểm b (“thu lợi bất chính 200 triệu đồng trở lên”), thì hình phạt sẽ cao hơn mức tối thiểu.

Bên cạnh đó, hành vi của bà Yến còn có dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015. Đây là một trong các tội xâm phạm sở hữu. Hành vi khách quan của tội này là “bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác”. 

Nếu bà Yến được chứng minh là đưa thông tin giả, mà bà biết là giả, và mong muốn những người khác tin là thật, từ đó chiếm đoạt tài sản của họ, thì bà phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này với hình phạt tối thiểu là cải tạo không giam giữ đến ba năm và cao nhất là phạt tù chung thân, tùy theo mức độ nghiêm trọng của hành vi, ví dụ, nếu phạm tội có tổ chức, thì sẽ bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm, theo điểm a, khoản 2, Điều 174.

Trong cả hai trường hợp của hai tội trên, người phạm tội có thể bị phạt tiền (theo khoản 3, Điều 320 và khoản 5, Điều 174). Riêng trong trường hợp của tội lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản, người phạm tội có thể chịu thêm chế tài khác như tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản (theo khoản 5, Điều 174).

Hẳn nhiên, ngoài bà Yến, nhà sư Thích Trúc Thái Minh – trụ trì chùa Ba Vàng – cũng có các dấu hiệu của các tội kể trên, chẳng hạn, với tư cách là người tổ chức các hoạt động thỉnh vong, gọi hồn, nên nếu được chứng minh phạm tội, cũng phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng.

Nguyễn Trang Nhung

Nguồn : RFA, 26/03/2019 (NguyenTrangNhung’s blog)

Chú thích :

[1] Vụ ‘thỉnh vong’ ở chùa Ba Vàng : Phạt 5 triệu và bà Yến đi đâu ?

[2] Vụ cúng “oan gia trái chủ” tại chùa Ba Vàng : Bà Phạm Thị Yến bị phạt 5 triệu đồng

[3] Vụ chùa Ba Vàng : Xử phạt hành chính 5 triệu đồng bà Phạm Thị Yến

[4] Như [1]

***********************

Mạt pháp : Công ty cổ phần kinh doanh Phật giáo Việt Nam

JB Nguyễn Hữu Vinh, 25/03/2019

Kể từ khi cộng sản cướp được chính quyền và tay mình, với một chủ nghĩa vô thần mang tên Mác – Lenin được coi là sợi chỉ đỏ, làm nền tảng tư tưởng xã hội, Việt Nam đã có nhiều thay đổi.

phat8

Chùa Ba Vàng, nơi Đại đức Thích Trúc Thái Minh bày trò “thỉnh vong” moi tiền người dân mê tín, nhẹ dạ. (Hình : tintuconline.vn)

Quá trình “tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng mang tên : “Cách mạng về quan hệ sản xuất”, “Cách mạng về khoa học và kỹ thuật” và “Cách mạng về tư tưởng văn hóa”, Cộng sản đã biến đất nước thành một cuộc thí nghiệm vĩ đại cho chủ thuyết cộng sản. Để rồi cho đến nay, dù không chịu thừa nhận, thì trên thực tế, cái gọi là “3 cuộc cách mạng” nói trên đã hoàn toàn thất bại.

Trước hết là cuộc Cách mạng về quan hệ sản xuất với chủ đích xóa bỏ mọi tính chất tư hữu trong xã hội, xây dựng một nền kinh tế kế hoạch tập trung. Cướp đoạt bằng “Cải cách ruộng đất”, xóa bỏ mối quan hệ xã hội kiểu phong kiến lạc hậu.. Thì sau khi cướp ruộng đất chia cho dân cày, cộng sản trở lại cướp ruộng đất của người dân vào tay quan chức cộng sản để thay cho các địa chủ thời xưa. Sau khi hô hào cả xã hội đánh tư sản, cải tạo công thương nghiệp tư bản, tư doanh… thì ngày nay, cộng sản lại hình thành các tập đoàn sân sau của quan chức, những tư bản đỏ ra đời… thay cho những tư bản ngày xưa.

Điều khác biệt ở đây, chỉ là ở chỗ : những địa chủ mới, những tư bản đỏ ngày nay được hình thành bởi tính chất cướp bóc vô luân và vô luật, trên sự đau khổ và cùng quẫn của người dân một cách trắng trợn chứ không được hình thành từ khả năng và tư chất cũng như những tài nghệ của mình như trước đây.

Tiếp đến, cuộc Cách mạng về khoa học và kỹ thuật được coi là then chốt, là quan trọng, được ưu tiên… thì ngày nay, cả đất nước gần 100 triệu dân, mà nền sản xuất công nghiệp chưa làm nổi một chiếc ốc vít đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Riêng cuộc Cách mạng về khoa học và kỹ thuật thì có nhiều chuyển biến rõ nét và thành quả, hay nói đúng hơn là hậu quả của nó hết sức dễ dàng nhận thấy trong đời sống xã hội.

Với tính chất vô thần, với quan niệm “vật chất quyết định ý thức”, ngay từ đầu, người cộng sản đã Chủ trương tiêu diệt tôn giáo, thay đổi tư tưởng con người bằng mọi cách, mọi hình thức có thể, nhằm tạo ra cái gọi là “Con người mới xã hội chủ nghĩa”.

Thành quả để lại là một lớp “Con người mới xã hội chủ nghĩa” lãnh đạo đất nước, đưa xã hội trở thành xã hội vô luân, vô đạo đức và nô lệ. Những hành vi không tính người được khuyến khích phát triển, lấy bạo lực làm đầu và dối trá làm phương tiện sống mà tiến thân. Mâu thuẫn xã hội đẩy lên cao và sự phân biệt con người, miệt thị tôn giáo cách ngang nhiên, trắng trợn trong xã hội là chuyện bình thường.

Chủ trương đó, được thực hiện qua nhiều thời kỳ bằng nhiều phương thức khác nhau. Trước hết là đập bỏ, tiêu diệt mọi cơ sở vật chất của tôn giáo. Xóa bỏ các trường đào tạo tu sĩ, chặt đứt mọi liên lạc của tôn giáo với thế giới bên ngooài.

Hàng loạt đền, chùa, miếu mạo bị đập nát, tượng Phật bị chẻ làm củi đun, chùa chiền được tháo ra làm chuồng trâu, chuồng lợn, nhà thờ thánh thất biến thành nhà kho, tu viện biến thành nơi kinh doanh, nhảy múa… Theo một nhà nghiên cứu, riêng Tỉnh Nghệ An có đến 500 ngôi chùa, thì đã bị đập phá gần như hoàn toàn, số còn lại là 28 chùa trong điều kiện có cũng như không. Cũng theo các số liệu được công bố, Giáo hội Công giáo Việt Nam hiện vẫn còn 2.500 nơi thờ tự bị nhà nước cộng sản chiếm, cướp, chia chác và biến tướng không chịu trả lại.

Hệ thống đào tạo, giáo dục và tuyên truyền bằng mọi cách tạo những mâu thuẫn nội bộ trong nhân dân để bài xích, phân biệt và khủng bố tôn giáo cách trắng trợn. Những người theo con đường tu hành bị bắt bớ bỏ tù hàng loạt và đày ải chết trong các trại giam. Những giáo dân bị phân biệt trong mọi lĩnh vực xã hội, trong công việc, trong cuộc sống, họ bị coi là công dân hạng hai, với đủ mọi thứ xấu xa, lạc hậu và phản động mà hệ thống tuyên truyền cộng sản có thể nghĩ ra được.

Tôn giáo có đông tín đồ nhất Việt Nam là Phật giáo cũng được cộng sản “quan tâm” tiêu diệt hàng đầu và đã hết sức thành công.

Sau một thời gian, cái chủ thuyết vô thần không thể tiêu diệt được niềm tin tôn giáo của người dân vốn đã từ ngàn đời nay tồn tại, tuy vẫn “kiên định” chủ trương tiêu diệt tôn giáo, nhưng Cộng sản thi hành một chính sách khác hơn. Đó là khuynh loát, phá hoại từ phía trong, từ đầu não của Phật giáo, phá hoại từ cốt lõi, từ giáo lý, từ căn nguyên của Phật giáo Việt Nam.

Và đại nạn Phật giáo đã bước vào giai đoạn đỉnh điểm khủng khiếp nhất trong lịch sử Việt Nam. 

Bắt đầu từ việc buộc giải tán các hệ phái khác nhau để nhập lại một giỏ gọi là Giáo hội Phật giáo Việt Nam với phương hướng hành động là “Đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội” dưới sự quản lý của đảng cộng sản vô thần. Người dân gọi đây là Phật giáo Quốc doanh.

Thế rồi hàng ngũ sư sãi mậu dịch được đào tạo bởi các trường công an. Công an được “biệt phái” sang làm nhiệm vụ chính trị với nghề sư sãi, cái mõ và bộ cà sa là vũ khí, người dân u mê là đối tượng tác chiến. Những tay công an có vợ con ở tỉnh này, địa phương này được bố trí làm sư ở địa phương khác, tỉnh khác. Hàng tuần, hàng tháng có thể về thăm vợ con và đủ mọi trò ngược đời sống tu hành.

Điều hết sức hài hước, là một tôn giáo từ lâu đời, được lãnh đạo, dẫn dắt bởi một đàn sư sãi là đảng viên Cộng sản vô thần. Thậm chí có những tên còn đến 50 tuổi đảng và cấp bậc cao ngất trong lực lượng công an.

Để có thể “bằng chị, bằng em” với các đồng chí của mình trong hệ thống tham nhũng, kiếm chác ở mọi mặt trận và “Ăn của dân không chừa một thứ gì”, các sĩ quan an ninh hành nghề sư sãi mặc sức bịa đặt các món mê tín, dị đoan và lừa đảo để hành nghề hốt bạc. Nào là nhà chùa cúng sao, giải hạn, xem ngày xem tháng, rồi gọi vong báo oán, vay nợ đầu năm, phát ấn Đền Trần… Hầu hết những trò mê muội này đều đi ngược lại và phá nát hệ thống Giáo lý nhà Phật, dẫn đưa người dân đi vào cõi u mê và đe dọa cuộc sống của họ bằng cách bịa đặt, dọa dẫm họ phải nôn ra bằng hết những đồng tiền mồ hôi, nước mắt của họ..

Thực chất, cộng sản Việt Nam đã thành công trong việc biến Phật giáo thành một Tổng Công ty cổ phần Kinh doanh Phật giáo mà quan chức là cổ đông, nghề kinh doanh chính là lừa đảo.

Mới đây, chuyện “dâng sớ cầu an” lừa đảo, thu hàng chục tỷ đồng mỗi năm của Thích Thanh Quyết, một cán bộ an ninh có cỡ, nổi tiếng bằng những câu nói ngu xuẩn trên cái gọi là Quốc hội bị báo chí tố cáo chưa xong, thì vụ Chùa Ba Vàng của Thích Trúc Thái Minh “thỉnh vong báo oán” đã gây nên sự phẫn nộ khủng khiếp. Báo chí được bật đèn xanh vào trận chiến.

Có điều, những vụ việc đó cũng là chuyện tất yếu trong nội bộ đảng Cộng sản khi phe nhóm đang tàn sát lẫn nhau hiện nay. Tất cả chỉ vì quyền lợi, vì lợi ích phe nhóm, hoàn toàn không vì bất cứ điều gì để đem đến một sự làm sạch sẽ hệ thống Phật giáo Quốc doanh hiện tại.

Bởi, trên hết và nguồn gốc sự suy đồi của Phật giáo Việt Nam hiện nay, là Đảng Cộng sản vô thần, tổ chức đã khuynh loát hệ thống này đến tận chân tơ kẽ tóc.

Và như lời Thái Bá Tân một dịch giả, một nhà thơ đã viết :

Đúng là thời mạt pháp.

Sư toàn người an ninh.

Muốn dẹp hết chùa bẩn,

Phải dẹp chùa Ba Đình.

Ngày 25/3/2019

J.B Nguyễn Hữu Vinh

Nguồn : RFA, 25/03/2019 (nguyenhuuvinh’s blog)