CƠN ÁC MỘNG MỸ (8)

Một thế giới truyền thông ngoài truyền thống

Truyền thông bảo thủ là một bộ máy phun sương mù khổng lồ được thiết kế để làm người ta hoang mang và mất phương hướng (The conservative media is a giant fog machine designed to confuse and disorient people). Charlie Sykes, cựu hướng dẫn viên chương trình của đài phát thanh bảo thủ (131).

Ben Shapiro, 34 tuổi, là cái loa phóng thanh của giới trẻ bảo thủ Mỹ. Với cách đáp ứng nhanh nhẹn và khả năng lý luận thông minh, Shapiro là người thừa kế của một trong nhiều ông vua truyền thông bảo thủ, chẳng hạn như hướng dẫn viên chương trình phát thanh Rush Limbaugh và gương mặt truyền hình Sean Hannity. Ngay từ lúc 17 tuổi, Shapiro đã là nhân viên chính thức của đài truyền thanh và trước khi đầy 22 tuổi, cựu sinh viên Havard này đã viết hai cuốn sách có cái tít gây sốc  Brainwashed: How Universities Indoctrinate America’s Youth Porn Generation: How Sosial Liberalism Is Corrupting Our Future. Shapiro dùng nhiều thời gian để chỉ trích cánh tả (132). Hiện nay anh cầm đầu chương trình podcast The Ben Shapiro Show và là biên tập viên của trang tin tức The Daily Wire. Ngôi sao truyền thông trẻ tuổi này rất bén nhạy và cay độc. Giễu cợt là vũ khí hàng đầu của anh và mọi người yêu thích. Shapiro không sợ đụng chạm và trở nên nổi tiếng khi đi đến các trường đại học tự do để tranh luận với những người không đồng quan điểm. Anh hơi khác với các đồng nghiệp trong thể loại này khi chỉ trích Donald Trump. Những đề tài anh đề cập có thể đoán trước được: quyền lực của nhà nước, giáo dục gia đình, ảnh hưởng của cộng đồng HLBT, phá thai, sở hữu vũ khí, v.v…Dù thường được xem là đại diện quan trọng nhất của thể loại này, kênh truyền hình Fox News vẫn chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Posdcast của Shapiro được tải xuống 15 triệu lần mỗi tháng. Ngoài ra, anh còn là bình luận viên thường xuyên trên một số kênh truyền hình và có trang Facebook riêng. Tin tức bảo thủ là “big business”, thông qua nhiều cơ sở truyền thông, tiếp cận hàng chục triệu người Mỹ mỗi ngày. Ngành công nghiệp này phát triển mạnh bằng cách tạo cơ hội cho các chính trị gia cộng hòa lên tiếng cáo buộc tất cả các phương tiện truyền thông chính thống đều thiên tả, và chỉ có các kênh bảo thủ mới cung cấp toàn bộ sự thật. Mỗi ngày, truyền thông bảo thủ kiếm được rất nhiều tiền bằng cách vùi dập tính độc lập còn lại của báo chí (đối thủ cạnh tranh). Kết quả là người Mỹ bảo thủ có nghi ngờ sâu sắc đối với đại đa số các nguồn tin chính thức trong nước (134).

Cung cấp thông tin bảo thủ là một thể loại tôi gọi là “ truyền thông ngoài truyền thống”(alternative media). Những người phổ biến tin tức kiểu này không che giấu lập trường ý thức hệ. Họ nỗ lực tiếp cận các phân khúc hẹp hơn trong thị trường truyền thông – đặc biệt nhắm đến những người dân chủ hay cộng hòa quan tâm thu thập tin tức từ các nguồn thiên vị. Sự xuất hiện của các kênh truyền thông ngoài truyền thống như vậy đã phân mảnh bức tranh truyền thông Hoa Kỳ và góp phần chia rẽ nước Mỹ.                                                                                                                                                       

“Truyền thông tự do” không thành công nhiều như truyền thông bảo thủ. Nhiều người đã thử. Trang web The Huffington Post rất phổ biến trong nhiệm kỳ tổng thống Bush Jr. nhưng mất cả độc giả lẫn danh tiếng trong 10 năm qua. “Đài phát thanh tiếng nói tự do” chưa hề cất cánh. Vào giữa những năm 2000, kênh Air America đã cố gắng tạo thị trường cho thể loại này nhưng cũng phá sản năm 2010. Trong nhiều năm, mặc dù các diễn viên hài trên TV như John Steward, Steven Colbert và John Oliver đã thành công lớn với chương trình châm biếm chính trị, họ vẫn chưa bao giờ cố gắng trở thành những người phát sóng tin tức nghiêm chỉnh. Lời giải thích là có thể các cử tri tự do, trái ngược với các đối thủ chính trị của họ, tin vào thực chất của các nguồn tin chính thống. Họ lắng nghe NPR, một phiên bản như NRK ở Na Uy, hay đọc những tờ báo lớn như Washington Post và The New York Times. Một giải thích cụ thể hơn áp dụng cho các nhóm thiểu số ở Hoa Kỳ, phần lớn bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ, là họ chọn các kênh đề cập đến người Mỹ gốc Phi châu hay các chương trình  tiếng Tây Ban Nha. Điều này không có nghĩa là các phương tiện truyền thông này không lớn mạnh bên cánh tả, và chúng ta sẽ thấy trong chương sách này, các cử tri tự do có khuynh hướng thích tin tức từ các nguồn ôn hòa.

Người đàn ông khả kính nhất nước Mỹ

Để hiểu được sự xuất hiện của truyền thông ngoài truyền thống, chúng ta phải đi ngược thời gian.Ngày 20 tháng Bảy 1969, người Mỹ thực hiện cuộc đổ bộ mặt trăng lần đầu tiên trong lịch sử. Toàn thế giới theo dõi sự kiện này sau khi phi hành gia Neil Amstrong gửi về trái đất câu nói nổi tiếng: ”Đây là bước nhỏ bé của một người nhưng là bước tiến khổng lồ của nhân loại”. Chính người đưa tin Walter Cronkite đã truyền lại câu nói này khắp thế giới. Mỗi ngày Cronkite tường thuật mạch lạc và sâu sắc tin tức đến hàng triệu gia đình Mỹ. Thời gian này chỉ có vài kênh TV. Cronkite được cả nước biết đến. Theo các cuộc thăm dò dư luận, ông là “người khả tín nhất nước Mỹ”. Hướng dẫn viên chương trình này được người dân ngưỡng mộ hơn cả các chính trị gia, các ngôi sao thể thao và những người nổi tiếng. Cronkite là biểu tượng Mỹ trong giai đoạn phần lớn người dân tin nhiều vào truyền thông. Khi Cronkite ở đỉnh cao của sự nghiệp, 78% người cộng hòa và 64% người dân chủ tin rằng truyền thông đã hoạt động hợp lý khi chống lại cả hai đường lối chính trị (135).

Sự tín nhiệm như vậy đối với truyền thông không phải lúc nào cũng là chuẩn mực trong lịch sử Hoa Kỳ. Giai đoạn chiến tranh giành độc lập từ 1775 đến 1783, trong giới làm báo, có sự chia rẽ giữa những người ủng hộ cuộc nổi dậy và những người muốn các thuộc địa vẫn trung thành với vương quốc Anh. Trong một USA tân lập, báo chí sát cánh với các đảng phái khác nhau và sinh hoạt như cơ quan ngôn luận của các chính trị gia. Vào giữa những năm 1800, báo chính trị bị những tờ báo lá cải cạnh tranh. Hầu hết mọi người đều chú ý đến tin tức. Đến cuối thế kỷ, mối quan tâm này bùng nổ. Số lượng báo và độc giả tăng mạnh. Nhiều tờ báo tập trung truyền đạt các tin giật gân, tin đồn và các vụ hình sự. Đồng thời báo chính trị ít dần.

Qua thế kỷ 20, báo chính trị tái chiếm thị trường. Việc ghi tên ký giả trong bài báo trở thành phổ biến để tác giả phải chịu trách nhiệm bài viết của mình. Năm 1930, số lượng độc giả tăng lên 40 triệu và quyền lực của báo chí cũng tăng theo. Trong những năm 1960 – 1970, nhiều người tin rằng báo chí  là khởi điểm tốt nhất để dẫn đến sự công bằng và bình đẳng xã hội (136). The New York Times và Washington Post tường thuật về cái gọi là Pentagon Papers, các tài liệu liên quan đến chuyện USAở Việt Nam, nhấn mạnh đến vai trò báo chí như cơ quan quyền lực thứ tư. Cuộc đấu tranh không mệt mỏi của Washingtin Post đã vạch trần vụ bê bối Watergate.

Trong giai đoạn này, báo chí rất được tôn trọng vì hai lý do: giữa các tòa báo ít có sự cạnh tranh nên nhà báo có rộng thời gian để tập trung vào những vấn đề lớn. Như chúng ta đã thấy trong chương đầu tiên của cuốn sách, đây cũng là thời điểm các đảng phái chính trị ít bị phân cực, điều này có nghĩa là các chính trị gia không dùng nhiều thì giờ để chỉ trích các phương tiện truyền thông (137).  

Chiến dịch bôi nhọ có chủ ý

Những năm 1960 – 1970 là thời gian huy hoàng của báo chí nhưng cũng là lúc có dấu hiệu phân mảnh trong tương lai. Trong chiến dịch năm 1964, Barry Goldwater đã sỉ nhục báo chí bằng hàng chữ “Eastern Liberal Press”. Goldwater và cánh bảo thủ cho rằng cả nhà báo lẫn cánh hữu cộng hòa ôn hòa thuộc giới tinh hoa ở bờ biển phía đông. Và họ không phải là những người duy nhất tin vào chuyện này. Năm 1968, buổi họp thường niên của đảng Dân chủ ở Chicago kết thúc với sự hỗn loạn trong phòng họp và bạo động trên đường phố bên ngoài. Người bảo thủ xem TV khắp nơi trong nước phản ứng với các đài truyền hình và quả quyết truyền thông không tường trình đúng mức cuộc bạo loạn của những người biểu tình (138). Năm 1969, Spiro Agnew, phó tổng thống của Nixon, cáo buộc các đài truyền hình phát sóng tin tức chính trị một chiều. Trong bài phát biểu, ông mô tả các nhà bình luận và các hướng dẫn viên chương trình như cái trục New York – Washington sống trong một thế giới khác với phần còn lại trong nước. Từ đó, quả quyết của Agnew được các chính trị gia cộng hòa nhắc lại và biến cải nhiều lần. Newt Gingrich chọn thuật ngữ “elite media”, trong khi ứng cử viên phó tổng thống Sarah Palin thích cái tên“lamestream” nhất. Trump liên tục sử dụng cụm từ “fake news media” và thường xuyên tuyên bố truyền thông là kẻ thù của nhân dân. Chúng là những thuật ngữ mang ý nghĩa tiêu cực được biết đến nhiều nhất và truyền thông bảo thủ thường xuyên lặp lại. Khi mở kênh Fox News, rất hiếm khi người ta không nghe hướng dẫn viên chương trình và khách mời không tuôn ra những thuật ngữ như “ liberal media ” hoặc “ the anti-Trump, leftish media establishment” (139).

Cánh hữu luôn cáo buộc truyền thông có khuynh hướng thiên tả khi tường thuật tin tức nên quan điểm chính trị của người dân dựa trên nền tảng sai lầm (140). Vì vậy, các kênh bảo thủ cần tái cân bằng bức tranh thực tế sai lệch. Để điều chỉnh sự mất cân bằng này, các chính trị gia đảng Cộng Hòa đã thay đổi luật chơi nhiều lần. Các kênh phát sóng ở Hoa Kỳ được đặt dưới sự quản lý của The Federal Communications Commission (FCC). Ủy ban này gồm năm thành viên do tổng thống bổ nhiệm và Thượng Viện phê chuẩn. Tối đa ba thành viên có thể cùng chung một đảng. Trong nhiệm kỳ tổng thống của Ronald Reagan, đảng Cộng Hòa có được đa số tại FCC và xóa bỏ luật có tên là The Fairness Doctrine (141). Luật này yêu cầu tất cả các đài phát thanh phải giành một khoảng thời gian phát sóng nhất định để đưa ra các đề tài đang gây tranh cãi trong công chúng. Ngoài ra, các kênh phải đại diện cho cả hai bên về cùng một vấn đề và chuẩn bị truyền thanh đúng công tâm. Biện luận cho các quy định là, trước kia ở Mỹ, có quá ít kênh phát sóng nên cần có sự can thiệp của nhà nước để bảo đảm các vấn đề quan trọng phải được thảo luận và các quan điểm khác biệt có cơ hội được trình bày. Đến thập niên 1980, đảng Cộng Hòa cho rằng đây không còn là vấn đề nữa. Bằng cách loại bỏ các rào cản đối với việc đơn phương bàn về tin tức chính trị đã mở cửa cho một phương tiện mới: Talk Radio.

Rush Limbaugh và Fox News

Ngày nay, hơn một nửa dân số Mỹ nghe radio mỗi ngày (142). Mặc dù nhiều người chủ yếu nghe nhạc hay thể thao, talk radio là hiện tượng rất phổ biến. Đây là thể loại phát thanh kéo dài hàng giờ, kết hợp với âm nhạc, để thuyết trình viên và người gọi vào có dịp trao đổi ý kiến với nhau. Trong thị trường talk radio, hơn 90% các chương trình có góc độ bảo thủ và được hàng triệu người nghe mỗi ngày. Rush Limbaugh là ông vua talk radio và phụ trách công việc này trên 30 năm. Giống như phần lớn những người khác cùng ngành, ông hay nói về chính trị, thường với giọng điệu dân túy, bảo thủ và châm chọc. Gây sốc thường là mục tiêu của hướng dẫn viên radio này. Ngay trong những năm 1990, ông đã dùng các thuật ngữ như “feminazis”, “environmental wackos” hay “commie liberals” (143). Việc bãi bỏ nguyên tắc Fairness đã giúp Limbaugh có được nhiều thính giả hơn qua làn sóng radio và công nghệ này cũng giúp ông tiến xa . Trong khi các kênh radio nhỏ ở địa phương cần hướng dẫn viên chương trình, các kỹ thuật phát sóng mới trong những năm 1990 đã cho họ cơ hội truyền tải các chương trình quốc gia mà chỉ cần trả một phần chi phí. Ngoài ra, vì âm nhạc có thể truy cập dễ dàng hơn trên internet nên các đài phát thanh cần phải có cái gì để bù vào khoảng trống trong chương trình. Đối với các đài địa phương, Limbaugh là một chọn lựa rất thích hợp vì ông lấp đầy thời gian phát sóng và đã thu hút được nhiều thính giả.

Nhân vật hướng dẫn chương trình bảo thủ này nhận được sự giúp đỡ từ Washington. Năm 1996, đảng Cộng Hòa ở Quốc Hội, với Newt Gingrich đứng đầu, đã bãi bỏ quy định về quyền sở hữu trong thị trường radio. Trước kia, tư nhân chỉ có thể sở hữu tối đa 24 kênh phát sóng quốc gia. Đảng Cộng Hòa đã loại bỏ mức tối đa này. Thị trường tái lập nhanh chóng sau khi vài doanh nghiệp mua nhiều ngàn kênh. Doanh nghiệp lớn nhất trong số này là công ty Clear Channel. Nhiều lãnh đạo bảo thủ cộng hòa  từ Texas, có quan hệ mật thiết với gia đình Bush, sở hữu và quản lý công ty này (144). Các cải cách bảo đảm cho nhiều tiếng nói bảo thủ trên làn sóng radio, như Rush Limbaugh, đột nhiên tiếp cận được nhiều thính giả mới.

30 năm sau khi ra mắt, lịch phát sóng của Rush Limbaugh vẫn tiếp tục đều đặn từ 2 đến 3 tiếng mỗi ngày. Ông cho biết 27 triệu người Mỹ hàng ngày nghe chương trình của ông. Chuyện này làm ông trở thành người dẫn chương trình radio nổi tiếng nhất nước Mỹ, với một chương trình được phát sóng trên hơn 600 kênh địa phương (145). Limbaugh được biết đến là người hay có những câu tuyên bố gây tranh cãi. Năm 2012, ông gọi một phụ nữ trẻ lên sóng phát thanh sau khi cô công khai tuyên bố bảo hiểm y tế chỉ nên dùng để trả cho việc kiểm soát sinh đẻ. Năm 2016, Limbaugh khiến nhiều người lắc đầu khi ông tuyên bố chính quyền Obama đang cố gắng chuyển các quỹ của nhà nước cho nông dân đồng tính nữ để họ xâm chiếm các khu vực bảo thủ (146).

Sự nổi tiếng của Limbaugh giảm bớt trong những năm gần đây nhưng chuyện này không có nghĩa là chương trình của ông không còn được yêu thích. Có lẽ các phương tiện truyền thông ngoài truyền thống đã lan sang các bình diện mới khác, chủ yếu là truyền hình và internet.

Ruper Murdock, một ông trùm trong ngành truyền thông người Úc, vào những năm 1990, đã khởi xướng một kênh truyền hình bảo thủ ở Hoa Kỳ. Murdock xây dựng đế chế truyền thông của mình ở Úc và Anh Quốc trước khi xâm nhập thị trường báo chí Mỹ. Ông có quan điểm chính trị bảo thủ và không hài lòng với cách truyền bá thông tin của những người bạn Mỹ cánh hữu của mình. Vì vậy, ông thành lập Fox News. Kênh tin tức này tự quảng bá bằng khẩu hiệu “Fair and Balanced” với ý nghĩa Fox News không thiên hữu nhưng đây là cuộc chuyển hướng trở về trung tâm của nhóm tinh hoa truyền thông tự do (147). Murdock theo cùng một sách như thượng nghị sĩ Barry Goldwater và phó tổng thống Spiro Agnew.

Fox News bước vào một thị trường đang dưới sự thống lãnh của CNN và MSNBC. Người sáng lập CNN, Ted Turner, chào đón đối thủ cạnh tranh và cười tuyên bố rằng ông sẽ đập nát Murdock như đập một con bọ nhỏ (148). Turner đã đánh giá đối thủ quá thấp. Murdock thuê chiến lược gia đảng Cộng Hòa Roger Ailes để dẫn dắt kênh truyền hình mới. Ailes bắt đầu sự nghiệp trong ngành truyền hình nhưng nhanh chóng được Richard Nixon để mắt tới, sau lần gặp tổng thống trong một chương trình thu hình. Nhà sản xuất TV trẻ tuổi Ailes trở thành hướng dẫn viên truyền thông cho Nixon và sau này làm việc cho cả Reagan và Bush (149). Trong một giai đoạn, ông cũng sản xuất radioshow cho Rush Limbaugh.

Triết lý nghề nghiệp của ông sếp Fox News mới rất đơn giản và được minh họa bằng một giai thoại ngắn ông thường hay kể: hai ứng cử viên chính trị đứng trên sân khấu. Một ứng cử viên trình bày giải pháp cho cuộc xung đột ở Trung Đông. Người kia té ngay xuống chỗ dàn nhạc bên dưới. Theo Ailes, ai thắng trong cuộc tranh luận này? Tất nhiên là người bị té. Vụ tai nạn của ông hay bà ta sẽ được các kênh TV tranh nhau tường thuật. Chìa khóa để chiến thắng trong trận chiến truyền thông là cứ làm ầm lên, bất kể chủ đề gì. Với triết lý này, Ailes đã thành công tột bậc: trong 10 năm, số lượng người xem Fox News tăng lên 570 %, gấp đôi số người xem CNN, và từ đó là kênh tin tức này có vị trí hàng đầu trên truyền hình cáp.

Fox News có vị trí quan trọng bên cánh hữu. Năm 2014, sáu trong mười người xem TV tự nhận mình là người cộng hòa trong khi chỉ một số ít là người dân chủ. Trong một nghiên cứu năm 2017, người ta cho rằng việc Fox News đưa tin về hai cuộc bầu cử tổng thống năm 2004 và 2008 đã dẫn đến kết quả đảng Cộng Hòa được nhiều phần trăm hơn trong ngày bỏ phiếu (150).

Sức mạnh của truyền hình đạt đến một tầm cao mới trong cuộc bầu cử năm 2016 phần lớn nhờ Donald Trump. Ngoại trừ thời gian ngắn với sự có mặt của hướng dẫn viên chương trình Megyn Kelly, Trump tuyên bố Fox News là kênh ông ưa thích. Tổng thống thường xuyên liên lạc với người dẫn chương trình Sean Hannity. Ông này đóng vai trò cố vấn không chính thức cho tổng thống (151). Trump thường xuyên viết tweet khuyến khích mọi người xem các chương trình phát sóng khác nhau của Fox, đặc biệt là chương trình yêu thích của riêng mình Fox and friends. Lời kêu gọi lên đến đỉnh điểm sau vài tháng đầu trong nhiệm kỳ tổng thống, khi ông trích dẫn một bài bình luận của Fox và diễn giải theo cách Thụy Điển gần đây mới bị bọn khủng bố tấn công. Dân Thụy Điển lắc đầu ngao ngán và Sarah Huckabee Sanders phải lên tiếng giải thích tổng thống không đề cập đến một vụ khủng bố cụ thể nào, nhưng ông chỉ muốn nói đến cái mà vài chính trị gia Na Uy gọi là “tình trạng ở Thụy Điển”. Tổng thống bất chấp chỉ trích và liên tục lập lại là ông nghe tin tức này từ Fox News. Giờ đây, tổng thống Mỹ là cái loa phát thanh cho Fox News chứ không phải ngược lại.

Mặc dù có nhiều quyền lực, Fox News cũng không độc quyền. Như chúng ta đã thấy trong chương trước, trong những năm 1990, có sự hợp nhất trong thị trường truyền thanh.Thế giới truyền hình cũng xảy ra giống vậy. Nhóm truyền thông bảo thủ Sinclair Broadcast Group đã mua lại hơn 200 kênh truyền hình địa phương. Việc này đã giúp họ mở rộng đáng kể phạm vi hoạt động và tăng khả năng tác động đến các cuộc thảo luận xã hội. Những chủ nhân nào không công khai gửi thông điệp chính trị đến người xem và những đài địa phương nào không chuyển tiếp thông điệp sẽ lãnh hậu quả. Năm 2004, nhóm truyền thông này đã sa thải một biên tập viên vì ông từ chối phát sóng một phim tài liệu trong phần tin tức trên đài truyền hình địa phương của mình. Phim tài liệu này chỉ trích một chiều ứng cử viên tổng thống của đảng Dân Chủ John Kerry. Mặc dù, sau vụ này, Sinclair bị chỉ trích không ít nhưng họ cũng không thay đổi nhiều. Sinclair thường xuyên phân phối các clip tin tức hay luận điểm cho các chương trình phát sóng địa phương trong nước. Bằng cách này, họ tiếp cận được rất nhiều người xem vì TV địa phương là phương tiện hầu hết người Mỹ dùng để xem tin tức. Gần đây, một số nhà phê bình cho biết Sinclair Broadcast Group có khuynh hướng kèm thêm những câu trả lời thân Trump vào luận điểm của họ, và yêu cầu đài địa phương phải đọc lên (152). Trong các clip video, người ta thấy hiệu ứng orwellian khi hàng chục lập trình viên đọc rập khuôn các câu trả lời thân GOP. Thông điệp “pro Trump” lan rộng khắp nơi, nhưng hiếm khi người ta có được cái nhìn toàn diện bởi vì nó được phát sóng trên các kênh truyền hình đơn lẻ.

Không một thành phần nào bên cánh tả có thể so sánh với Fox News hay Sinclair Broadcast Group. Sức mạnh của truyền thông bảo thủ dành cho cánh hữu trong lãnh vực radio và TV là độc nhất vô nhị. Đồng thời, bên cánh tả cũng có khuynh hướng phát triển tương tự. Kênh truyền hình CNN thường hoạt động rất tốt trong ngành báo chí nhưng, theo ý tôi, họ đã không đưa nhiều tin về chính quyền Trump. Có thể giải thích là vì Trump đã dời sự hiểu biết về sự thật của chúng ta ra khỏi khuôn khổ đã có từ trước. Việc này gây khó khăn cho các hãng truyền thông nghiêm túc khi tường trình về ông. Mùa xuân 2017 Trump quả quyết Obama đã nghe lén điện thoạt trong chiến dịch bầu cử của ông là một ví dụ. Đây là một cáo buộc vô nghĩa vì hoàn toàn không đúng sự thật nên khó có thể tường trình một cách đứng đắn. Nhưng vai trò khách quan trong việc đưa tin cũng bị tổn hại khi hai hướng dẫn viên chương trình nổi tiếng Erin Burnett và Don Lemon chế diễu Trump để rồi bị xem như là bản sao của Sean Hannity và vài người khác. Đàn em MSNBC còn tệ hơn nữa. Mika Brzezinski và Joe Scarborough, hai hướng dẫn viên chương trình Breakfast TV (từng là đại diện Hạ Viện của đảng Cộng Hòa những năm 1990 ) từ lâu đã có xích mích với người bạn cũ Donald Trump. Hai ông và tổng thống cùng tạo ra mối quan hệ cộng sinh. Trong chương trình TV, Mika và Joe thường chế diễu Trump. Tổng thống trả đũa trên twitter và Morning Joe lại dùng nội dung tweet làm đề tài mới cho chương trình lần tới. Mối quan hệ hỗ tương như vậy khiến cách hữu cho rằng truyền thông chính thống thiên tả.

Donald Trump đã giúp phần tin tức của các kênh truyền hình được nhiều người xem. Trong những năm gần đây, tôi ghé thăm các cơ sở truyền thông ở Na Uy hàng trăm lần và hay nói chuyện về Trump. Ngay tại đất nước này, chuyện Trump cũng được bàn cãi sôi nổi đáng kinh ngạc. Tôi nhận được nhiều phản hồi chỉ trích trong hộp thư. Đôi khi là những lời nhắc nhở hữu ích hay sự chỉ trích về cách dùng từ ngữ. Sau nhiều năm sống ở nước ngoài, tôi bị cho là đã mỹ hóa tiếng mẹ đẻ và thường bị phê bình là thiên vị. Trước cuộc bầu cử tổng thống, nhiều người cho rằng tôi hay chỉ trích ứng cử viên đảng cộng hòa, nhưng sau cuộc bầu cử, tôi lại quá tử tế với tổng thống. Cũng như nhiều người khác, tôi có thể không chính xác nhưng cố gắng trung thực khi biện minh ý kiến của mình bằng sự thực. Hầu hết báo chí Na Uy đều theo tôn chỉ này. Các cuộc thảo luận chính trị thường được tiết chế hoặc bằng một nhà báo thận trọng hay một chuyên gia ngăn chặn kịp thời sự quá khích của đôi bên. Ở Hoa Kỳ các kênh truyền thông đã rời bỏ điều này. Các nhà bình luận làm việc cho những kênh TV lớn nhất ở Mỹ có vai trò khác so với Na Uy. Không gì bực bội hơn khi CNN mỗi ngày phát sóng các cuộc thảo luận với sự tham dự của bảy tám người, được chia làm hai nhóm và mỗi nhóm có một chuyên gia thiếu khách quan hỗ trợ. Hai bên không che giấu những lý luận của họ được trích thẳng từ chính sách của đảng và cuộc thảo luận trở thành việc xác định vị trí chính trị của họ với người xem. Do có nhiều người tham dự buổi hội thảo và nhiều lần bị quảng cáo gián đoạn, người điều hành chương trình ít khi can thiệp để chặn sự thái quá hay dối trá. Kết quả là, với tư cách người xem, hoặc bạn sẽ có cùng ấn tượng như lúc mới bắt đầu bật TV hoặc không chắc chắn cái gì là sự thật.

Phân cực kỹ thuật số

Sự xuất hiện của các kênh truyền thanh hay truyền hình với góc độ bảo thủ hay tự do là tin xấu cho cuộc thảo luận xã hội ở Hoa Kỳ. Truyền thông ngoài truyền thống tiếp cận hàng triệu người Mỹ mỗi ngày và trở thành cái phòng echo (echo chamber) cho phép người ta xác định quan điểm của mình thay vì cập nhật tin tức. Điều này đặc biệt đúng với các cử tri bảo thủ vì họ sử dụng rất ít nguồn tin. Radio và TV đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển này nhưng internet và mạng xã hội còn đưa đến chiều hướng tiêu cực hơn.

Đêm thứ bảy ngày 17 tháng Giêng 1998, một blogger trẻ tuổi tên là Matt Drugde đã tung ra một trái bom từ phòng ngủ của anh ở Hollywood. Chỉ cần nhấp chuột, anh tiết lộ vụ Monica Lewinsky khiến nhiệm kỳ thứ hai của Bill Clinton đổ dồn chính vào Lewinsky. Tin sốt dẻo này không những ảnh hưởng đến tổng thống mà còn làm thay đổi cả cách truyền tải tin tức. Trang web của Drugde trở nên phổ biến bằng cách liên kết với bài viết của những người khác nhưng không phải lúc nào cũng là nguồn tin khả tín. Trong cơn sốc, các nhà báo đánh giá Drugde như kiểu truyền miệng, một lối gièm pha không có nguồn tin cậy. Cùng với số lượng độc giả ngày càng tăng, hình thức tin tức trực tuyến xuất hiện và tồn tại. Drugde khởi đầu cho cái gọi là phương tiện truyền thông ngoài truyền thống trên mạng vốn sống nhờ tái sinh và tiếp tục xoay vòng các sự kiện. Cũng chính từ Drugde, Adrew Breitbart sau này thành lập trang mạng Breitbart và bắt đầu làm việc như biên tập viên. Phong cách cứng rắn của Andrew Breitbart đã lôi cuốn Steve Bannon, người có ảnh hưởng đến nền chính trị Mỹ sau này.  Andrew Breitbart và Steve Bannon gặp nhau lần đầu năm 2004, trong buổi ra mắt phim tài liệu về Reagan và chủ nghĩa cộng sản. Bannon, qua trung gian ngân hàng đầu tư Goldman Sachs, đã chuyển tiền của mình vào ngành trò chơi trên máy tính. Ông chia sẻ quan điểm Breitbart cực hữu và bắt đầu trợ cấp tài chính cho các trang mạng. Bảy năm sau, chính Bannon đã thuyết phục tỷ phú Robert Mercer đầu tư hơn 9 triệu dollars vào trang mạng Breitbart (153).  

Giống như Matt Drugde và Roger Ailes, Andrew Breitbart nghĩ rằng quần chúng rất ít quan tâm đến sự thật hay sắc thái và hầu hết chỉ muốn xem vở kịch diễn tả cuộc chiến giữa hai thế lực tốt và xấu trong xã hội. Mục đích của Breitbart không nhằm tạo ra các nhan đề nhưng để ảnh hưởng và định hình các thể chế chính trị, đồng thời thay đổi những gì ông cho là vô văn hóa và thiếu chuẩn xác chính trị (154). Nhưng ông chết vì bệnh tim trước khi thực hiện triết lý của mình. Steve Bannon vào cuộc. Khởi đầu, chỉ có vài nhân viên tận tâm điều hành Breitbart trong căn hầm của một ngôi nhà Bannon thuê ở Washington D.C.. Bannon ngủ và làm việc tại đó và tiến hành triết lý bi kịch của Breitbart. Trang mạng viết về những đề tài lớn quen thuộc như di dân, khủng bố, chiến tranh chủng tộc và mối đe dọa đối với các giá trị truyền thống trong xã hội (155). Cuối cùng, Bannon tuyên bố trang mạng là “nhà của phong trào Alt-Right”. Alt-Right ( viết tắt của Alternative Right) là một phong trào chính trị liên kết lỏng lẻo ủng hộ một ý thức hệ bảo thủ cấp tiến hơn. Trái ngược với chủ nghĩa bảo thủ truyền thống, những người ủng hộ Alt Right kết hợp mọi ý thức hệ, từ tân phát xít đến các nguồn internet. Dưới sự quản lý của Bannon, số lượng người làm việc cho trang web tăng lên gấp ba lần và họ mở thêm văn phòng tại London, Texas, Jerusalem và California. Năm ngoái, trước cuộc bầu cử 2016, số lượng người truy cập trang web này tăng lên rất mạnh và Breitbart, từ một trang web vô danh, đã trở thành một trong những trang web bảo thủ được truy cập nhiều nhất ở Hoa Kỳ.

Breitbart không có nhiều điểm chung với Drugde Report nhưng cả hai là một phần của câu lạc bộ  những người viết blog như The Blaze, Newsmax, Daily Caller, Daily Wire, Washington Free Beacon, Western Journalism, Gateway Pundit và Newsbusters v.vv…Điểm chung của các trang blog này là tái chế các vấn đề của truyền thông chủ lưu (mainstream media) nhưng trình bày chúng dưới góc độ bảo thủ. Đôi khi họ còn gán các vấn đề vào các nguồn truyền thông chủ lưu như Fox News và CNN bằng cách viết những bài phê phán các phương tiện truyền thông này đã bỏ qua những tin tức quan trọng. Một cựu tổng thư ký của đảng cộng hòa gọi chiến lược này là “ gây ảnh hưởng đến thẩm phán”. Ông so sánh nó với trận bóng đá, nơi huấn luyện viên cố gắng tạo áp lực với trọng tài bằng cách liên tục quấy rối làm phiền. Nó không thể thay đổi thái độ của trọng tài ngay lúc đó, nhưng về lâu về dài, có thể làm trọng tài thay đổi đôi chút trong trận đá bóng sắp tới. Như vậy người ta cũng đạt được mục tiêu (156).  

Năm 2016 chúng ta có một thí dụ đau lòng về cách hành xử như vậy. Ngày 10 tháng Bảy 2016, Seth Rich, một nhân viên của đảng Dân Chủ bị bắn chết gần nhà mình ở Washington D.C. Sau đó các trang web bảo thủ tung ra một thuyết âm mưu cho rằng Rich đã giao các email của đảng Dân Chủ cho Wikileaks khiến đảng chính trị này gặp khó khăn trong chiến dịch bầu cử (157). Động lực vì Rich ủng hộ Bernie Sanders và muốn thọc gậy bánh xe cản trở Hillary Clinton. Theo thuyết âm mưu, Rich bị giết vì bị cho là thành phần nguy hiểm. Nhiều phương tiện truyền thông lớn cũng “cắn câu” đưa tin như vậy nhưng cuối cùng chỉ là tin vịt. Hai người tung ra thuyết âm mưu cho biết họ đã gặp thư ký báo chí Nhà Trắng Sean Spicer. Mục đích là chuyển sự quan tâm của quần chúng về vụ điều tra Nga sang hướng khác: đảng Dân Chủ (158).

Truyền thông trực tuyến tự do cũng đang trên đường phát triển. Những trang web như Salon, Democracy now!, Slate, HuffPost, The Young Turks, Raw Story, Daily Kos và The Nation ngày càng trở nên phổ biến. Một thiếu sót trong các trang mạng này là sự thù địch đối với các phương tiện truyền thông chủ lưu. Điều này không có nghĩa là chúng không góp phần vào sự phân cực. Các kênh cấp tiến thường tấn công chính quyền cộng hòa, đặc biệt dưới thời Bush và Trump. Chiến lược thường được áp dụng là tìm cách phỏng vấn một đảng viên cộng hòa hoặc một người thuộc cánh hữu và chụp lấy cơ hội để phê phán khi họ nói sai hay đuối lý trong cuộc thảo luận. Đôi khi, các trang mạng này được ủng hộ do đã vạch ra những vấn đề gian lận của truyền thông bảo thủ. Nó tạo thành hiệu ứng bóng bàn cho phép cả đôi bên dẫn ra những khía cạnh tồi tệ nhất của phía bên kia và dựa vào đó để chụp mũ đối phương. Đây không phải là hiện tượng hiếm hoi: tổng quan cho thấy hơn 500 trang web hoặc tự do hoặc bảo thủ luôn bóp méo tin tức hay chính trị trong cách trình bày của mình.

Mạng xã hội và tin tức giả

Hiệu ứng dân chủ hóa mạng xã hội đã cho người đọc cơ hội tham gia cuộc hội thoại nên, về cơ bản, là sức mạnh tích cực. Mọi người giờ đây có thể tham gia chính trị mà không cần rời khỏi ghế sô pha. Nhưng mạng xã hội cũng tạo ra những căn phòng echo mới mà phương tiện truyền thông ngoài hệ thống đang tận dụng. Một ví dụ: Tomi Lahren, 26 tuổi, sau một năm làm việc cho kênh TV của sinh viên, đã trở thành người dẫn chương trình cho kênh internet The Blaze của Glenn Beck. Lahren nổi tiếng ngay lập tức khi cáo buộc tổng thống Obama ủng hộ chiến binh Hồi giáo (jihadist) và tránh dùng thuật ngữ Hồi giáo cực đoan (radical Islam). 65 triệu người đã xem video cô tường thuật về một cầu thủ bóng đá không đứng lên trong lễ chào cờ. Những đoạn blog ngắn của cô làm mạng xã hội dậy sóng. Cô chỉ là một trong nhiều ví dụ. Những người sử dụng kỹ thuật số thuộc cả cánh hữu lẫn cánh tả lấp đầy mạng xã hội bằng clip video và lời gây chia rẽ. Trang web tự do Raw Story mô tả Trump, những người cộng hòa và các gương mặt truyền thông bảo thủ là những kẻ ngu xuẩn. Being Liberal truyền bá tin tức cấp tiến và quảng cáo cho nhiều cuộc biểu tình khác nhau. Điểm chung của các trang mạng này là chúng khiêu khích hay vận động những người cùng chí hướng tham gia và được hàng triệu người thích, chia sẻ, bình luận mỗi ngày. Việc tích cực tham gia vào tin tức chính trị trên mạng xã hội đã thu hút các thành phần có mưu toan đáng sợ hơn là chính phương tiện truyền thông ngoài hệ thống. Sau cuộc bầu cử 2016, rất nhiều blogger và trang mạng đã tung tin giả. Biểu đồ của Media Bias/Fact Check (MBFC News), một tổ chức độc lập chuyên kiểm tra mức độ khả tín của tin tức, cho thấy có hơn 400 trang web truyền bá tin tức giả đến công chúng Mỹ. Nhiều trang trong số này truyền tải thông điệp của họ qua Facebook và các nhóm Facebook như “We hate Donald J. Trump” hay “Hillary Clinton for Prison”. Các nhóm này có từ vài trăm đến hàng trăm ngàn thành viên. Họ thường đưa ra các câu hỏi có tính cách kiểm soát, có lẽ để tránh sự lũng đoạn của đối phương. Biện pháp này tăng cường hiệu ứng phòng echo vì chỉ những người đồng ý mới có thể là thành viên.

Alice Marwick, giảng viên trường đại học University of North Carolina tại Chapel Hill và là chuyên gia về mạng xã hội. Bà đã vạch ra hiện tượng các nhóm cực hữu bắt đầu phổ biến thuyết âm mưu trên diễn đàn trực tuyến 4Chan. Đây là một trong những diễn đàn nổi tiếng nhất. Họ truyền bá tin tức trên Twitter, Reddit và Facebook đến các phương tiện truyền thông ngoài hệ thống. Và từ đó chúng chuyển tiếp đến các phương tiện truyền thông chính thống (160). Theo điều tra viên đặc biệt Robert Mueller, người dẫn đầu cuộc điều tra Nga, tình báo Nga cũng cố gắng làm giống như vậy trước cuộc bầu cử Mỹ năm 2016. Khi đưa ra cáo buộc 13 người Nga dính líu đến cuộc bầu cử, Mueller đã đề cập đến nhiều nỗ lực nhằm gây ra hỗn loạn, bao gồm việc khích động những người đối lập thông qua Facebook và các kênh truyền thông xã hội khác (161). Người Nga đã quá dễ dàng khai thác các phòng echo trong mạng xã hội khi làm chuyện đó.

Không chỉ riêng Vladamir Putin vui mừng trước sự phát triển này. Những người lập thuyết âm mưu  ở Mỹ chưa bao giờ có điều kiện làm việc tốt như hiện nay. Một trong những người đứng đầu là Alex Jones, sáng lập viên các show radio-internet và đã điều hành trang mạng Infowars từ năm 1999. Trang web này chuyên về thuyết âm mưu và được 10 triệu người truy cập mỗi tháng (162). Chính Alex Jones đã đứng sau lời quả quyết về vụ thảm sát Sandy Hook, với cái chết của 20 đứa trẻ và 6 nhà giáo, đã được dàn dựng nhằm đưa ra luật kiểm soát vũ khí chặt chẽ hơn. Ông còn tung ra các  thuyết khác như Michell Obama là đàn ông, nhà nước kiểm soát khí hậu, người thằn lằn cai trị trái đất và  Hillary Clinton là một con quỷ.

Jones không ngồi một chỗ để truyền bá âm mưu của mình vào hư vô. Các video trên Youtube của ông có 1,3 tỷ lượt xem (163). Ông nổi tiếng trong năm 2016 là nhờ Donald Trump. Tổng thống đã tỏ vẻ thích Jones trong nhiều năm và còn tham dự show của Jones với tư cách là khách mời. Jones cho biết, sau cuộc bầu cử, Trump đã điện thoại cho ông và cảm ơn Infowars đã giúp ông rất nhiều trong cuộc bầu cử. Roger Stone, cố vấn không chính thức của Trump, thường xuyên xuất hiện trên Infowars, nói rằng chương trình thuyết âm mưu đã không được đánh giá đúng mức trong việc giúp tổng thống thắng cử năm 2016. Khoảng một năm rưỡi sau, công trạng của trang mạng này được đền đáp đôi chút khi Infowars có giấy phép tạm thời vào nhà Trắng. Chính các đại diện trang web tuyên bố họ đang vận động để được truy cập thường xuyên các cuộc họp báo trong Nhà Trắng.

Charlie Sykes, cựu hướng dẫn viên chương trình phát thanh bảo thủ giải thích những ý tưởng của Jones được nhân vật quyền lực nhất thế giới hợp thức hóa như sau:”Ông ta đã tiêm một lối nói độc hại và hoang tưởng vào cách suy nghĩ bảo thủ thông thường mà vài thập niên trước không ai làm được. Chúng tôi muốn nói về một nhân vật đang quảng bá một số lý thuyết cực kỳ bệnh hoạn và gây sốc nhất (164). Nhưng, cuối cùng, các ý tưởng đó lại bám rễ. Giống như Trump, Jones xác quyết Barrack Obama sinh ra ở ngoài Hoa Kỳ. Một nửa trong số những người ủng hộ Trump tin rằng Obama sinh ở Kenya. Số lượng người tương đương cũng tin Hillary Clinton dính líu đến “Pizzagate”, một thuyết âm mưu tố cáo đảng Dân Chủ buôn lậu người. Chính Jones đã tung ra thuyết âm mưu này (165). Đây chỉ là hai ví dụ về những chuyện điên rồ trước kia chỉ phổ biến giới hạn trong xã hội nhưng bây giờ lại tràn lan trên mạng xã hội.  

Phương tiện truyền thông ngoài truyền thống vừa là kết quả vừa là yếu tố góp phần vào sự phân cực trong chính trị Mỹ. Trong hơn 60 năm, các chính trị gia cộng hòa và truyền thông bảo thủ luôn cáo buộc báo chí chính thống tường thuật tin tức một cách bất công. Khác với cử tri tự do, cử tri bảo thủ không sử dụng nhiều nguồn tin. Các kênh thiên hữu luôn nhắc đến “sự thiên vị” để duy trì thị phần của họ. Niềm tin vào truyền thông giảm sút nên quần chúng có ít thông tin hơn. Vì hoài nghi tin tức từ nguồn truyền thông lớn, người đọc tìm đến các nguồn thông tin khác nhằm củng cố định kiến của mình (167).

Các nguồn tin bảo thủ và tự do phổ biến tiếng nói chính trị đội lốt tin tức. Các “tin tức” kiểu này trộn lẫn sự kiện với quan điểm và sự kiện được diễn giải theo hướng có lợi cho mỗi bên, khiến các đối thủ đả kích lẫn nhau. Việc này tạo ra chu kỳ thông tin liên tục lan rộng trên các bình diện như radio, TV, podcast, blog và mạng xã hội.