CƠN ÁC MỘNG MỸ (6)

Chống phá thai

Mặt đất rung chuyển dưới chân. Từ Tòa Án Tối Cao nhìn về hướng Nhà Trắng, tôi thấy một biển người đang diễu hành, dẫn đầu là sáu cảnh sát công lộ cưỡi xe mô-tô, thỉnh thoảng bấm còi hụ báo đoàn biểu tình đang tiến về phía chúng tôi đang đứng. Hàng trăm ngàn người đã đến từ khắp nơi trên nước Mỹ để đánh dấu ngày March for Life được tổ chức hàng năm. Họ là những người chống việc phá thai. Người ta nói rằng cuộc mít-tinh lần này, năm 2018, đông hơn bao giờ hết. Cái tên March for Life dễ bị nhầm với cái tên March for Our Lives, một phong trào nổi lên mạnh mẽ sau vụ thảm sát Parkland, vào đầu mùa xuân 2018. Nhưng có lẽ không nhiều người chống vũ khí có mặt tại đây bởi lẽ những người chống phá thai liên kết chặt chẽ với đảng Cộng Hòa, một đảng chính trị luôn có chủ trương cởi mở đối với việc sở hữu vũ khí.

Cũng như phong trào “pro gun”, phong trào chống phá thai trở thành “pro life”. Thuyết phục những người khác về một việc gì đó dễ dàng hơn là chống lại họ. Hàng chữ “Hãy yêu cả hai” trên một tấm áp phích được thiết kế giống như tấm bảng đã dùng trong phong trào phụ nữ diễn ra sau ngày Trump nhậm chức năm 2017. “Sống cho cuộc sống là sống cho phụ nữ” là khẩu hiệu trên một tấm áp phích khác. Ba đứa trẻ trạc độ mười tuổi, đầu đội mũ lưỡi trai dán hàng chữ Make America Great Again, cổ khoác khăn quàng màu xanh da trời, đỏ và trắng với hàng chữ “ Pro Life Generation”, sẵn lòng cho tôi chụp hình. Tay bọn trẻ cầm tấm bảng viết hàng chữ “ Yêu cuộc sống, Chọn cuộc sống” và “Hãy chấm dứt hỗ trợ Planned Parenthood”(80). Cũng như nhiều người có mặt tại đây, ba đứa trẻ đi cùng với nhóm nhà thờ. Họ là thành phần thuộc thế hệ trẻ “pro life” ở Mỹ. Phần lớn những người tham gia đều còn trẻ. Tôi tự hỏi họ có hoàn toàn biết mình đang làm gì ở đây không. Tuy vậy, những tiếng hò hét vang dội ít ra cũng cho tôi hiểu rằng những người tham gia biểu tình rất nhiệt tình.

Đoàn biểu tình đang đi đến gần Toà Án Tối Cao, nơi Roe chống lại phán quyết của Wade năm 1973. Trong bản án này, Toà Án Tối Cao thừa nhận quyền phá thai được bổ sung vào tu chính án 14 trong Hiến Pháp Hoa Kỳ, thông qua quyền riêng tư. Hai người phụ nữ hãnh diện đi ngang qua, tay cầm tấm bảng với hàng chữ:” Tôi là người mẹ và tôi bị hiếp dâm. Tôi yêu con trai và cháu của tôi”. Tấm bảng kế tiếp viết:”Sống cho cuộc sống là nữ quyền thực sự”. Một người đàn ông leo lên một diễn đàn nhỏ gắn trên mui chiếc xe ô tô đậu bên đường. Các thiết bị chuyên nghiệp cho thấy trước đây ông đã tham gia biểu tình rất nhiều lần. Cạnh diễn đàn là tấm áp phích với hàng chữ viết hoa lớn: “Phá thai là hủy hoại mạng sống trẻ em” cùng hình vẽ con quỷ đang nắm chân một thai nhi. Một áp phích khác vẽ những bàn tay của thai nhi đặt trên một đồng tiền. Người đàn ông này cho chiếu băng video, phát hình các thai nhi ngay sau khi bị phá . Hình ảnh thật khủng khiếp nhưng có lẽ đây là điểm chính ông muốn đề cập.  Ông nói vào micro:” Sự thật rất tàn nhẫn”. Nếu chúng ta tin vào bài nói chuyện đã soạn sẵn từ trước, ông và vợ đi khắp nơi trong nước để thuyết phục mọi người về vấn đề này.

Những người biểu tình tập trung tại The Mall để nghe bài phát biểu quan trọng trong ngày. Tổng thống Trump đang ở đây. Ông xuất hiện và nói chuyện trực tiếp trên màn ảnh lớn từ Nhà Trắng. Ông nói đến số người Mỹ ủng hộ “pro life” lúc càng nhiều và quyền tự quyết định phá thai cần phải loại bỏ (81). Hiếm khi Trump bày tỏ mối quan tâm đến vấn đề giá trị và ông đã trở mặt 180 độ trong vấn đề phá thai. Năm 1999, Trump tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn:”Tôi rất “pro choice”. Tôi căm ghét ý niệm phá thai nhưng tôi tin rằng người ta phải có tự do lựa chọn”. Có lẽ để bù đắp chuyện đã qua, giờ đây với tư cách tổng thống, ông là người đầu tiên nói chuyện trực tiếp với March for Life truyền qua video. Reagan đã nói chuyện bằng điện thoại một lần và Bush “cha “ cũng đã thu băng video. Kể từ đó cho đến nay, Nhà Trắng tránh đề cập đến chuyện này. Tổng thống giới thiệu với đoàn biểu tình một phát ngôn viên, người đang nỗ lực làm việc này còn tốt hơn cả chính ông. “ Đã rất lâu, lần đầu tiên nước Mỹ mới có một cơ quan hành chánh từ trên xuống dưới gồm toàn những người không lầm lỗi vì tôn trọng cuộc sống ”, phó tổng thống MIke Pence nói như vậy. Thời gian làm đại diện quốc hội trong những năm 2000, ông đã xây dựng hình ảnh mình là người liên tục chống phá thai. Trong lần có mặt ngày hôm nay, Pence nhấn mạnh rằng ông đã đem theo cuộc đấu tranh vào Nhà Trắng.

The Moral Majority

Các nhà lãnh đạo đảng Cộng Hòa đến gặp phong trào March for Life không phải ngẫu nhiên. Họ có mặt ở đây để nói chuyện với những người ủng hộ các giá trị bảo thủ, một liên minh lỏng lẻo gồm nhiều nhóm tôn giáo khác nhau, phần lớn bỏ phiếu cho các ứng cử viên đảng Cộng Hòa. Rất nhiều người trong số đó là ki-tô hữu truyền giáo . Nhìn về mặt lịch sử, các cử tri ki tô giáo không tham gia nhiều vào các tổ chức chính trị. Mối quan tâm về chính trị chỉ bùng phát khi các nhóm tôn giáo ở các tiểu bang miền Nam muốn loại bỏ thuyết tiến hóa ra khỏi học đường vào năm 1920. Tuy nhiên, trong suy nghĩ của đa số cử tri, chính trị là thứ trần tục và Cơ đốc giáo nói về Nước Trời vĩnh viễn.

Quan điểm này thay đổi khi ứng cử viên công giáo John F. Kennedy đắc cử tổng thống năm 1960.  32 năm trước, Alfred Smith là người dân chủ đầu tiên và cũng là người công giáo duy nhất trong lịch sử Hoa Kỳ được đề cử làm ứng cử viên tổng thống. Chiến dịch tranh cử của Smith bị phá sản bởi tin đồn quả quyết nếu thắng cử ông sẽ xây dựng một đường hầm nối liền Vaticant với Nhà Trắng. Hơn 30 năm sau, Kennedy lại phải đối mặt với hoài nghi tương tự trong khối cử tri tin lành. Mặc dù Kennedy dần thoát được những thách thức liên quan đến niềm tin riêng của cá nhân ông, cuộc bầu cử đã tạo ra một kiểu tham gia mới trong các cử tri sùng đạo. Nhiều sự cố xảy ra sau đó khiến kiểu tham gia này tiếp tục. Năm 1962, Tòa Án Tối Cao phán quyết việc đọc kinh buổi sáng ở trường học là bất hợp pháp và cấm việc bắt buộc đọc kinh thánh (82). Vài năm sau, cũng tòa án này quyết định nhà trường có thể đưa thuyết tiến hóa vào chương trình giảng dạy mặc dù trước đây nó là bất hợp pháp ở một số tiểu bang. Như đã đề cập, phá thai được cho phép trên toàn quốc sau khi Roe chống lại phán quyết của Wade năm 1973. Ngoài ra, nhà nước liên bang tiếp tục chống việc phân biệt đối xử bằng cách loại bỏ việc giảm thuế cho các trường tư thục tôn giáo vẫn không chịu thu nhận học sinh Mỹ gốc Phi châu (83). Vì vậy, nhiều cử tri sùng đạo cảm thấy như cá nhân họ bị chủ nghĩa duy vật tấn công.

Như chúng ta đã thấy trong chương 2, khoảng từ năm 1960 trở về sau, việc chuyển hướng đổi đảng diễn ra giữa những người dân chủ và cộng hòa. Việc phân loại cử tri không chỉ bị ảnh hưởng bởi địa lý mà còn bởi tôn giáo. Khi Jimmy Carter thuộc đảng Dân Chủ giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1976, ông nhận được sự ủng hộ của nhiều người trong số 40 triệu người Mỹ tự xưng là Ki tô hữu truyền giáo. Bản thân Carter là một trong những người đó và với thông điệp khôi phục nền đạo đức trong nước, ông đã gặp gỡ các cử tri bảo thủ. Tuy nhiên, sau khi ông vào Nhà Trắng, các cử tri này đã nhanh chóng quay lưng lại với ông. Sự ưa chuộng dành cho ông mất dần, một phần vì chính phủ không giải quyết được những thách đố như lạm phát cao, giá xăng dầu tăng và vụ khủng hoảng con tin tại tòa đại sứ Mỹ ở Iran. Đồng thời, giới ki tô hữu truyền giáo đã hướng mắt về một phong trào mới đang nổi lên ở cánh hữu: The Moral Majority.

Năm 1979, một nhóm các nhà lãnh đạo tôn giáo, trong đó có mục sư Jerry Falwell, thành lập nhóm vận động hành lang The Moral Majority. Chính Falwell là người sáng lập nhà thờ chính tòa (mega church) với 10 000 thành viên và lấy cảm hứng chính trị từ chiến dịch của Goldwater năm 1964 (84). The Moral Majority đặt nền tảng cho một “cánh hữu mới”, với mục đích tái lập những “giá trị đạo đức đã làm nước Mỹ vĩ đại”. Falwell và những người theo ông phản đối mạnh mẽ việc phá thai, đồng tính luyến ái, khiêu dâm, chủ nghĩa thế tục, nhà nước phúc lợi, nam nữ bình quyền và đơn phương phổ biến thuyết tiến hóa. Họ vận động hủy bỏ tính hợp pháp của việc phá thai, tái lập việc đọc kinh ở học đường cùng quyền điều hành trường tại gia và trường tôn giáo mà không có sự tham gia của chính phủ (85). Đây là sự khởi đầu của nhiều cuộc chiến văn hóa giữa cánh tả và cánh hữu trong chính trị Mỹ và tiếp tục mãi đến ngày nay.

Một năm sau khi thành lập, nhân cuộc bầu cử tổng thống năm 1980, The Moral Majority đã góp phần giúp ứng cử viên cộng hòa theo đạo tin lành Ronald Reagan thắng cử. Như chúng ta đã thấy trong chương 2, chiến thắng của Reagan là chiến thắng của cánh bảo thủ trong đảng Cộng Hòa. Đồng thời chiến thắng này cũng minh họa cho thấy phong trào ki tô giáo đang là một thành tố có ảnh hưởng lớn. Năm 1976, trong chương trình của đảng, người cộng hòa thừa nhận họ đã không đồng quan điểm với nhau về phán quyết của Toà Án Tối Cao trong vụ kiện giữa Roe và Wade. Điều này đã được thay thế bằng một đoạn văn nhấn mạnh đến quyền tuyệt đối được sống của trẻ em chưa sinh trong chương trình năm 1984. Những kẻ đấu tranh cho quyền phá thai không còn chỗ trong đảng Cộng Hòa. Một thay đổi khác cũng xảy ra liên quan đến The Equal Rights Amendment (ERA). Đây là  đề xuất bổ sung hiến pháp nhằm bình quyền hóa giới tính. Đảng Cộng Hòa tiên phong ủng hộ ERA năm 1940 nhưng, sau khi bị nhóm tôn giáo cánh hữu trong đảng tấn công, sự ủng hộ này không còn. Khi chỉ có 35 tiểu bang phê chuẩn phần bổ sung, nghĩa là thiếu ba phiếu để nó được ghi vào hiến pháp, đảng Cộng Hòa đã để ERA biến mất khỏi chương trình của đảng.

The Moral Majority cuối cùng đã có hàng triệu thành viên. Ronald Reagan tuyển dụng các nhà lãnh đạo từ nhóm này vào Nhà Trắng và vào đảng Cộng Hòa. Trong cuộc bầu cử năm 1984, phong trào này tình nguyện tổ chức vận động chiến dịch tranh cử cho tổng thống. Mục đích của nhóm ki tô hữu là thúc đẩy các cử tri sùng đạo trước đây nằm nhà tham gia và chứng tỏ họ là một sức mạnh cần phải để ý đến sau này trong nền chính trị Mỹ.

Tôn giáo tham gia chính trị

Phong trào truyền giáo phát triển mạnh một phần nhờ họ tìm ra những phương cách mới để truyền bá thông điệp đến với mọi người. Ngay từ năm 1927, đã có hơn 700 kênh radio ở Hoa Kỳ và các nhà truyền giáo hàng đầu sử dụng chúng vào việc này. Linh mục công giáo Charles E. Coughlin là nhà truyền giáo đầu tiên tiếp cận được với đông đảo quần chúng. 45 triệu người nghe ông nói mỗi tuần. Ngoài việc nói đến những thứ khác, Coughlin còn dùng diễn đàn của mình để đả kích Franklin Delano Roosevelt và gây ra quá nhiều tranh cãi trầm trọng đến mức các kênh radio lớn bắt đầu loại bỏ chương trình phát thanh tôn giáo. Sau những năm 1940, để đáp ứng sự thiếu hụt các chương trình tôn giáo, 150 tổ chức tôn giáo cùng thành lập một tổ chức ô dù (umbrella organisation) mua thời gian phát sóng cho các kênh thành viên. Mô hình tương tự được sử dụng khi TV xâm nhập thị trường đại chúng vào những năm 1950 – 1960. Các kênh tôn giáo cũng khai thác công nghệ mới như truyền hình vệ tinh để truyền bá thông điệp đến nhân dân Mỹ. Khi Reagan đắc cử, đã có 5 triệu người Mỹ xem đều đặn các chương trình truyền hình về tôn giáo. Bốn năm sau, số lượng người xem tăng lên 25 triệu (86).

Quyền lực của The Moral Majority giảm bớt khi Ronald Reagan rời Washington. Jerry Falwell, người sáng lập The Moral Majority, giải thể tổ chức năm 1988. Xung đột nội bộ và những vụ bê bối làm suy yếu quyền lực chính trị của các nhà truyền giáo. Tuy vậy, việc chính trị hóa phong trào truyền bá ki tô giáo vẫn tiếp tục mạnh. Ứng cử viên tổng thống Pat Robertson sáng lập The Christian Coalition, một liên minh gồm nhiều thành phần tôn giáo khác nhau để tiếp tục công việc của The Moral Majority.  Newt Ginrich nắm được quyền lực ở Hạ Viện năm 1994 một phần nhờ vào sự tiếp tay của cánh hữu sùng đạo. Trong khi năm 1988 các nhà truyền giáo chiếm 18% tổng số cử tri, con số này tăng lên 27% vào năm 1994 (87). Một số lượng cử tri áp đảo đã bỏ phiếu cho ứng cử viên cộng hòa Gingrich. Mười năm sau, vào năm 2004, các cử tri truyền giáo ki tô lại được nhiều vinh dự khi George W. Bush tái đắc cử. Khối cử tri sùng đạo đã củng cố được vị trí quyền lực của mình.

Ngày nay có 94 triệu ki tô hữu truyền giáo ở Hoa Kỳ (88). Trong số đó, 30% là người da trắng (89). Vì vậy, Trump và Pence dành thời giờ cho March for Life không phải ngẫu nhiên. Cả hai kéo dài thời gian có mặt để làm hài lòng những người bảo vệ đạo đức. Chỉ một tháng trước cuộc bầu cử năm 2016, Access Holywood tung ra cuốn video quay một Donald Trump rất bộc trực nói về cách ông ta gạ gẫm phụ nữ đã lập gia đình (90). Cuốn video về một ứng cử viên vô đạo đức như vậy trở thành thử thách lớn nhất để đo lường mức độ trung thành của các ki tô hữu truyền giáo đối với đảng. Họ có thể lựa chọn giữa đảng Dân Chủ đứng đắn hay một người đàn ông tự hào có khả năng tiếp cận phụ nữ bằng cách “ grab them by the pussig”. Cử tri ki tô giáo chọn Trump. Tám trong số mười ki tô hữu da trắng bỏ phiếu cho ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng Hòa. Bằng lá phiếu, họ đã được cái mình muốn. Chỉ ba trong số mười ki tô hữu tuyền giáo tin sự thay đổi khí hậu do con người gây ra. Tại một buổi họp cử tri năm 2017, Tim Walberg, một thành viên quốc hội cộng hoà và là ki tô hữu truyền giáo, minh họa quan điểm của các cử tri về lãnh vực khí hậu như sau:” Tôi là tín đồ cơ đốc do đó tôi tin vào một Thượng Đế vĩ đại hơn chúng ta nhiều. Tôi tin chắc chắn rằng nếu đó là vấn lớn (khí hậu thay đổi), Ngài sẽ sửa đổi nó”(91). Tổng thống Trump nhất mực tán thành và rút Hoa Kỳ ra khỏi Thỏa Thuận Paris năm 2017. Nhưng ông chưa chịu dừng . Sau đó, ông chỉ thị cho các cơ quan thuế không được truy thuế các nhóm tôn giáo tham gia sinh hoạt chính trị, một hoạt động khiến họ mất lợi điểm về thuế (92). Việc tái lập cái gọi là chính sách Mexico city, một trong những biện pháp nổi bật nhất tổng thống dùng để trả lễ cho những cử tri sùng đạo đã ủng hộ mình. Kể từ Ronald Reagan, chính sách này luôn được các tổng thống cộng hòa áp dụng nhưng Bill Clinton và Barack Obama đã loại bỏ trong nhiệm kỳ hai ông ở Nhà Trắng. Chính sách Mexico đòi hỏi các tổ chức phi chính phủ – dù của Mỹ hay nước ngoài- nhận tài trợ của liên bang, không được cung cấp các dịch vụ y tế liên quan đến việc phá thai. Các nhóm làm việc với sức khỏe phụ nữ trên khắp thế giới cảnh báo rằng việc tái lập này sẽ gây khó khăn cho nỗ lực chống bệnh aids và virus zika, đồng thời có thể dẫn đến tỷ lệ tử vong của trẻ em cao hơn. Nhưng chẳng có gì có thể tác động đến Trump, người đặt bút ký sắc lệnh ngay sau khi nhậm chức vào tháng Giêng 2017- đứng bao quanh ông là 9 người khác.

Đấu tranh về giá trị ngày nay

Trong những năm gần đây, các cử tri truyền giáo chuyển cuộc chiến văn hóa của mình sang các lãnh vực khác. Nhiều vụ kiện nhằm thách thức luật pháp quốc gia xảy ra. Luật pháp cấm các nhà cung cấp dịch vụ không được phân biệt đối xử với khách hàng đồng tính luyến ái. Một vài chủ tiệm ngoan đạo phản đối điều này. Họ cho rằng niềm tin tôn giáo của họ nặng ký hơn. Năm 2018, Tòa Án Tối Cao công nhận một thợ làm bánh ở Colorado có thể từ chối phục vụ những người đồng tính nam nếu muốn (94). Các ki tô hữu đã thắng trận đầu tiên trong cuộc chiến này.

Một đề tài khác có tên là cuộc chiến giành phòng vệ sinh. Mâu thuẫn này xoay quanh chuyện người chuyển giới phải sử dụng phòng vệ sinh dựa trên giới tính lúc mới sinh hay có thể dùng phòng vệ sinh dựa vào giới tính họ tự xác định như người chuyển giới. Liên minh truyền giáo tin rằng giới tính bẩm sinh là yếu tố quyết định. Năm 2016, đa số trong đảng Cộng Hòa ở tiểu bang North Carolina thông qua đạo luật yêu cầu mọi người sử dụng phòng vệ sinh tương ứng với giới tính bẩm sinh của mình. Do áp lực của doanh nghiệp tư nhân và của nhiều đội thể thao và sau khi thống đốc cộng hòa thất cử trong cuộc bầu cử tiếp theo vào năm 2016, tiểu bang North Carolina loại bỏ đạo luật này năm 2017. Trong cuộc tranh cử, ứng cử viên Trump nói rằng:” người chuyển giới nên được quyền dùng nhà vệ sinh nào họ muốn”. Khi biết mình đã nói hớ, chỉ vài giờ sau, ông tuyên bố thêm là tuỳ theo quyết định của từng tiểu bang. Sau này, ông ủng hộ đạo luật mới của North Carolina và sau khi trở thành tổng thống, ông bãi bỏ những đường lối dưới thời Obama vốn cho phép người chuyển giới có nhiều tự do hơn.

Khi cuộc bầu cử giữa kỳ giáp đến mùa Thu 2018, Trump lại ra mặt vận động những người sùng đạo đã ủng hộ ông từ trước giúp ông giữ được quyền lực. Trong cuộc họp với hơn 100 mục sư từ khắp nơi trong nước, Trump cảnh báo rằng nếu đảng Dân Chủ chiếm đa số trong Quốc Hội, họ sẽ thay đổi tất cả những gì quan trọng trong hội nghị. Ông mong muốn các mục sư sau khi quay về nhà, trong các buổi cầu nguyện hàng tuần, hãy yêu cầu mọi người bỏ phiếu cho đảng Cộng Hòa vào tháng Mười Một. Các mục sư chăm chú lắng nghe và sẵn lòng thực hành nhiệm vụ.

Giống như NRA, các phong trào tôn giáo, trong tuyên truyền, sẵn sàng gieo rắc nỗi sợ hãi khi trình bày các vấn đề chính trị. Người đồng tính luyến ái cưới nhau là mang tội với Thiên Chúa. Phá thai là phạm tội giết người. Chính trị mang màu sắc tôn giáo nên các cuộc tranh luận chỉ thêm bế tắc. Việc này thúc đẩy những người đồng quan điểm tụ họp trong những cuộc biểu tình như March for Life để bày tỏ sự phản đối khiến các chính trị gia cũng như cử tri khó lòng gặp nhau ở giữa. Khoảng cách giữa đảng Cộng Hòa và Dân Chủ ngày càng gia tăng.

Có nhiều cách để tác động đến quyết định chính trị của người khác. Như chúng ta đã thấy, những người ủng hộ vũ khí và chống phá thai sử dụng luận thuyết báo động, cố gắng tạo ảnh hưởng đến cuộc thảo luận công cộng và tham gia ủng hộ các buổi sinh hoạt xã hội phổ thông trong các nhóm đã được chọn lọc. Những người khác áp dụng các phương tiện đơn giản hơn: thỏa thuận bằng văn bản và túi tiền riêng của họ.